|
|
Chế biến thủy sản xuất khẩu tại Công ty Cổ phần Thủy sản thị xã Cam Ranh. |
Thị xã (TX) Cam Ranh thành lập ngày 7-7-2000, là trung tâm kinh tế (KT) trọng điểm khu vực cửa ngõ phía Nam Khánh Hòa, có vịnh Cam Ranh nổi tiếng với địa hình tự nhiên, vị trí địa lý mang tầm chiến lược về KT và quân sự vào bậc nhất nước ta. Cùng với sự phát triển chung của các địa phương trong tỉnh, sau 20 năm đổi mới (1989 - 2009), Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Cam Ranh đã xây dựng TX mang tầm vóc, diện mạo mới…
Gần 10 năm kể từ khi thành lập TX, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TX Cam Ranh đã khắc phục khó khăn, phát huy nội lực để phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), tạo bứt phá mạnh mẽ. Hàng năm, tăng trưởng KT bình quân của TX đạt trên 15,7%, thu nhập bình quân đầu người đến cuối năm 2008 đạt gần 600 USD, bằng 145% so với năm 2005. Đời sống nhân dân trên địa bàn, đặc biệt là miền núi, hải đảo, từng bước được cải thiện. Cơ cấu KT chuyển dịch theo hướng tích cực: Năm 2005, công nghiệp chiếm tỷ trọng 39,9%, dịch vụ thương mại 22,5%, nông nghiệp 37,6%; hiện nay: công nghiệp 51,5%, dịch vụ thương mại 21,1%, nông nghiệp 27,4%. Bên cạnh quy hoạch các khu, cụm công nghiệp và kêu gọi đầu tư vào sản xuất công nghiệp, TX đã thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư sản xuất công nghiệp quy mô lớn, tạo điều kiện tăng giá trị bình quân hàng năm 22%. Lĩnh vực đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, chế biến nông sản, hàng thủ công mỹ nghệ đã giải quyết việc làm cho trên 10.000 lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn.
Trong sản xuất nông nghiệp, TX Cam Ranh từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất các nông sản có giá trị KT cao, hình thành những vùng sản xuất nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến; tiếp tục chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và KT nông thôn theo hướng nâng cao giá trị chăn nuôi, dịch vụ, đa dạng hóa ngành nghề, dịch vụ và công nghiệp ở nông thôn. Chương trình kiên cố hóa kênh mương ở các xã lúa nước cơ bản hoàn thành và phát huy hiệu quả. Các chương trình chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật đã giúp nông dân đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, nâng cao chất lượng sản phẩm. Mô hình chăn nuôi tập trung với vật nuôi phong phú, có giá trị KT cao xuất hiện ngày càng nhiều. KT biển phát triển ở cả 3 lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến và được coi là ngành KT mũi nhọn của TX. Một số hải sản mới như rong sụn, cá mú, ốc hương… được đưa vào nuôi trồng, đem lại hiệu quả bước đầu. Nghề nuôi tôm hùm tuy mới phát triển nhưng đã chứng tỏ ưu thế về giá trị thương phẩm và đầu ra. Năm 2004, giá trị sản xuất thủy sản đạt hơn 320 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt hơn 21,3 triệu USD; năm 2008, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 30 triệu USD.
Các ngành dịch vụ, thương mại, du lịch trên địa bàn cũng tăng trưởng bình quân hàng năm trên 12,1%. Một số ngành dịch vụ như bưu chính viễn thông, tài chính ngân hàng, cảng, dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí, dịch vụ phục vụ nhà máy đóng tàu, nhà máy xi măng và sản xuất nông, lâm, thủy sản cũng phát triển và mở rộng. TX tập trung thực hiện huy động vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh của TX, bước đầu hình thành trung tâm KT, văn hóa, kỹ thuật phía Nam tỉnh.
Đến nay, 100% xã phường tại TX đã phủ điện; trên 98% hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia. Hệ thống giao thông nông thôn, đô thị, trường học, trạm y tế, trụ sở làm việc, khu vui chơi giải trí cho thiếu nhi, trung tâm thương mại, nhà ở… ngày càng khang trang. Số học sinh trong độ tuổi đi học ra lớp ngày một tăng, chất lượng dạy và học liên tục được nâng lên. Mạng lưới y tế từng bước được đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị. Đến nay, 95% trạm y tế xã phường có bác sĩ, các thôn khóm đều có nhân viên y tế cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân và thực hiện có hiệu quả các chương trình y tế quốc gia. Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa cũng được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm. Đến cuối năm 2006, tỷ lệ hộ nghèo là 13,9%, năm 2008 còn dưới 10%. TX tiếp tục đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư mở rộng cơ sở sản xuất, thu hút lao động ở lĩnh vực may mặc, đan mây tre, chế biến hạt điều. Trong 2 năm, số lao động được đào tạo nghề đạt gần 6.000 người, nâng tỷ lệ lao động được đào tạo nghề từ 26% cuối năm 2005 lên 33% cuối năm 2008.
Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ TX, UBND TX đã đề ra các biện pháp chỉ đạo, điều hành linh hoạt, sáng tạo, tiếp tục khơi dậy và phát huy các lợi thế của Cam Ranh, phấn đấu đạt và vượt hầu hết chỉ tiêu KT-XH do Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TX lần thứ 9 đề ra, phấn đấu đến năm 2010, TX đạt chuẩn đô thị loại 3. Với những thành quả gặt hái được, Đảng bộ và nhân dân TX Cam Ranh đoàn kết, quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu nhiệm vụ KT-XH trong năm tới, phấn đấu xây dựng Cam Ranh giàu về KT, vững về quốc phòng, đẹp về văn hóa, góp phần tích cực vào sự phát triển chung của tỉnh và khu vực Nam Trung bộ.
Vũ Ca
|