Khu bảo tồn biển (KBTB) Rạn Trào nằm ở xã Vạn Hưng, Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa là KBTB đầu tiên tại Việt Nam được thành lập do địa phương quản lý. Bảo tồn hệ sinh thái san hô ven bờ, thông qua áp dụng các hoạt động khai thác và nuôi trồng bền vững đang góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cộng đồng người dân nơi đây.
° Rạn… một thời
|
|
Nuôi tôm hùm lồng quanh khu vực Rạn Trào. |
Xã Vạn Hưng có 14km bờ biển, nguồn lợi san hô khá đa dạng, phong phú với 13 rạn lớn nhỏ có tên Rạn Trào, Rạn Tướng, Rạn Đưng… Vùng gần bờ có thảm cỏ biển rất rộng, bờ ngang từ bờ ra khoảng 40 - 70m; trong đó chiếm ưu thế là cỏ lá dừa, cỏ vích. Khu vực này là địa điểm sinh sản và sinh trưởng của rất nhiều loài hải sản quý hiếm. Đã bao đời nay, người dân ở đây chủ yếu nhờ vào nguồn lợi khu vực biển ven bờ này để tồn tại và phát triển. Toàn xã có 70% số hộ dân sống bằng nghề đánh bắt và nuôi trồng hải sản. Nhìn chung, nghề khai thác hải sản ở Vạn Hưng là nghề khai thác nhỏ, ngư dân chưa có đủ phương tiện, kinh nghiệm và trình độ kỹ thuật sử dụng các phương tiện đánh bắt có năng suất cao, hiệu quả kinh tế lớn nên không làm ảnh hưởng tới nguồn lợi và khu vực sinh sống của các loài hải sản. Những năm gần đây, nghề nuôi tôm hùm lồng và tôm sú ở đây phát triển khá rầm rộ; toàn xã có hơn 2.000 lồng tôm hùm, 175 ha đìa tôm sú. Do phát triển nuôi trồng không theo quy hoạch, quá nhiều lồng nuôi tôm hùm trong một vùng biển nông, sự tuần hoàn do nước thủy triều và hải lưu bị hạn chế, trong lúc lượng thức ăn cho tôm hàng ngày sử dụng khá nhiều, vượt xa mức yêu cầu mà tôm có thể sử dụng hết. Chính vì thế, chất lượng nước ở đây giảm sút và ô nhiễm nghiêm trọng. Bên cạnh đó, để tạo thêm diện tích nuôi tôm sú, nhiều người dân đã phá hủy các rạn san hô gần bờ để làm đìa nuôi tôm. Ngoài ra, việc sử dụng các biện pháp khai thác hủy diệt (mìn, chất độc Xianua) và tận thu (giã cào) đã dẫn đến hậu quả tai hại là nguồn hải sản suy giảm nghiêm trọng, môi trường biển bị thoái hóa.
Qua khảo sát, độ phủ trung bình của san hô cứng tại các rạn chỉ còn 10 - 20%, riêng Rạn Trào là nơi nhiều nhất còn 40 - 60%. Nguồn lợi hải sản ở vùng biển này hiện nay chỉ còn khoảng 10% so với năm 1980, một số loài hải sản quý thường đánh bắt được trước đây như bào ngư, hải sâm, cá mú, cá ngựa, sao biển… gần như không còn, những loài trước đây rất nhiều như ghẹ, cầu gai… nay cũng còn rất ít.
° Tin vui từ dự án
|
|
Màu xanh ven biển thôn Xuân Tự nay đã trở lại vì người dân đã ý thức được việc bảo vệ môi trường. |
Dự án KBTB Rạn Trào được UBND tỉnh phê duyệt và thành lập ngày 7-11-2001. Đây là dự án do Liên minh Sinh vật biển quốc tế IMA tại Việt Nam tài trợ trên cơ sở có sự tham gia của chính quyền địa phương. Hoạt động của KBTB theo nguyên tắc đồng quản lý, lấy người dân làm trung tâm cho mọi hoạt động với sự trợ giúp của chính quyền địa phương và các ban ngành liên quan. Sau gần 3 năm triển khai, phương thức quản lý nguồn lợi thủy sản ven bờ dựa trên cơ sở cộng đồng tuy còn mới mẻ nhưng đang mở ra một triển vọng mới. Nguồn lợi hải sản ở đây không những không suy giảm mà ngày càng phát triển.
Có mặt tại thôn Xuân Tự, tôi mới cảm nhận được ý thức bảo vệ nguồn lợi hải sản của người dân nơi đây hoàn toàn đổi khác. Ông Nguyễn Văn Chim, thôn trưởng, là nhóm trưởng nhóm hạt nhân đã tự hào nói với chúng tôi: “Ngày trước, người dân ở đây chỉ mạnh ai người nấy lo, ý thức bảo vệ nguồn lợi hải sản trong khu vực chỉ là chuyện thổi tù và hàng tổng. Sau khi được tuyên truyền về ý nghĩa của việc bảo vệ nguồn lợi hải sản ven bờ, người dân được trực tiếp tham gia lập kế hoạch và hoạt động của dự án nên chúng tôi rất đồng tình ủng hộ. Xã đã tổ chức họp dân ở các thôn, lấy ý kiến của cán bộ và nhân dân ở địa phương về việc xây dựng và bảo vệ KBTB. Bình bầu nhóm hạt nhân có nhiệm vụ bảo vệ, quản lý khu bảo tồn gồm 9 thành viên, trong đó có 8 ngư dân và 1 chiến sĩ Đồn Biên phòng 362. Nhóm hạt nhân này có nhiệm kỳ 2 năm và được bầu lại khi hết thời hạn. Nhóm hạt nhân tuy không được trả lương nhưng được vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất”.
Sau hơn 15 phút chạy ghe, ông Chim đưa chúng tôi ra khu vực Rạn Trào. Quanh khu vực này, hàng trăm bè tôm hùm mọc lên san sát chiếm cả một vùng biển rộng lớn. Qua hơn 2 năm, nhóm hạt nhân đã cấy ghép thành công 160 bụi san hô nhân tạo. San hô được cấy ghép trên cơ sở cắt nhánh san hô sống gắn vào các tảng san hô chết, mọi thao tác đều được thực hiện dưới nước để tránh san hô chảy hết chất nhờn, tỷ lệ sống sẽ không cao. Sau 3 - 4 tháng, san hô sẽ bám chặt và phát triển mạnh. Hiện nay,160 bụi san hô nhân tạo tại khu vực Rạn Trào phát triển tương đối tốt, từ 40 - 50cm. Cùng với việc phục hồi rạn san hô, người dân ở đây đang mở rộng mô hình nuôi tôm tùm lồng kết hợp vẹm xanh và hải sâm cát để cải tạo môi trường biển. Hai mô hình này được đánh giá vừa cho giá trị kinh tế cao vừa đảm bảo hệ sinh thái môi trường. Theo kết quả khảo sát của Viện Hải dương học Nha Trang vào cuối năm 2003: Mật độ cá rạn trung bình tại Rạn Trào là 555 cá thể/400m2, tăng 240 cá thể so với khi chưa thực hiện dự án. Tuy độ phủ san hô không tăng lên nhiều nhưng nguồn lợi sinh vật rạn san hô ở khu vực này tăng lên đáng kể, nhiều loài hải quý hiếm đã có mặt trở lại trong khu vực. Có thể nói, đây là một thành công đáng kể trong KBTB Rạn Trào.
° Không nên khai thác san hô chết
|
|
Thanh niên thôn Xuân Tự tham gia dọn vệ sinh môi trường biển. |
Nếu như ở khu vực thôn Xuân Tự đang làm tốt công tác bảo vệ nguồn lợi biển dựa vào cộng đồng, thì việc khai thác san hô trong các khu vực đìa tôm thôn Xuân Đông lại đang diễn ra âm ỉ và không kém phần phức tạp. Trao đổi với chúng tôi, ông Đào Văn Lương, Trưởng phòng Nông nghiệp - Tài nguyên - Môi trường Vạn Ninh cho biết: “Thực hiện Chỉ thị số 37 của UBND tỉnh về việc nghiêm cấm khai thác, vận chuyển san hô dưới mọi hình thức trên địa bàn toàn tỉnh, UBND huyện Vạn Ninh đã thành lập một đội kiểm tra liên ngành thường xuyên tuần tra các điểm nóng khai thác san hô trái phép. Hiện nay, việc khai thác các rạn san hô ngoài biển thuộc khu vực xã Vạn Hưng không còn xảy ra; tuy nhiên, ở thôn Xuân Đông, lợi dụng thực hiện cải tạo đìa, người dân đã khai thác một cách bừa bãi, gây tổn hại nghiêm trọng đến tài nguyên môi trường. Qua tuần tra, đã bắt và xử phạt hơn 20 xe vi phạm; tuy nhiên, tình trạng khai thác lén lút ở đây vẫn thường xuyên xảy ra”.
Khi đến thôn Xuân Đông, quang cảnh chúng tôi chứng kiến là các đìa nuôi tôm sú đang vắng bóng, guồng máy vứt chỏng chơ. Các đìa đang ngổn ngang san hô khai thác dở dang do bị nghiêm cấm. Qua tìm hiểu, diện tích đìa ở đây là đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích nuôi trồng hải sản; hoặc thuê đất nuôi trồng theo hướng bền vững. Thực chất, nghề nuôi tôm sú ở đây thất bát không ngoài nguyên nhân chung ở hầu hết các địa phương trong tỉnh. Có một số người khai thác san hô với mục đích cải tạo đìa nuôi tôm, nhưng không ít người vì không còn hy vọng gì ở nuôi tôm lại quay sang khai thác san hô. Theo người dân ở đây, 1m3 san hô khai thác bán được 25.000 đồng sẽ giúp người dân bù lỗ một phần nào do nuôi tôm sú thua lỗ, vừa có thể cải tạo đìa tiếp tục nuôi trồng hải sản. Nhưng thực tế, một số người dân khai thác san hô khá bừa bãi, không vì mục đích cải tạo đìa. Với phương tiện sử dụng xe múc, độ sâu của các rạn san hô bị đào bới một cách vô tội vạ. Điều đáng nói là đến lúc này, người dân vẫn chưa thoát khỏi ý nghĩ đất của mình muốn làm gì thì làm. Ngay cả lúc chúng tôi có mặt tại đây, người dân vẫn cho rằng việc khai thác san hô không ảnh hưởng gì đến môi trường sinh thái. Làm gì để người dân chuyển đổi nhận thức? Câu hỏi đó đang cần được chính quyền địa phương trả lời một cách thấu tình đạt lý.
CHÂU AN KHÁNH
San hô là hệ sinh thái biển có đa dạng sinh học phong phú nhất ở biển, chúng chỉ chiếm 0,25% diện tích nhưng lại là nơi sinh sống của 25% tổng số các loài cá trên toàn thế giới. Vì vậy, bảo vệ hệ sinh thái biển có năng suất sinh học cao nhất này có ý nghĩa quyết định đối với sự phong phú của nguồn lợi vùng biển. Theo Liên minh Sinh vật biển quốc tế IMA: Ở những nơi có rạn san hô tốt có thể đạt sản lượng khai thác hải sản 37 tấn/km2/năm; nơi có rạn san hô chết chỉ đạt sản lượng dưới 5 tấn/km2/năm, những nơi mất hẳn rạn san hô sản lượng còn thấp hơn nhiều.
| |