Hoa xương rồng trên cát
14:35' 20/10/2004 (GMT+7)

Ngày còn nhỏ, mỗi khi ôm tôi vào lòng, bà thường xoa đầu vuốt ve rồi thở dài khe khẽ: Con gái! Thôi lại như hạt mưa sa! Tôi có hỏi, bà cũng chỉ lắc đầu. Thành thiếu nữ, tôi đã hiểu vì sao lại có những tiếng thở dài ấy. Bà sớm nằm xuống để tôi không kịp nói với bà rằng phụ nữ thời nay đã khác. Nhiều người trong số họ là những bông hoa xương rồng trên đất cát, hoàn cảnh càng khó khăn, khắc nghiệt thì họ càng đẹp và quý hơn.

Cần mẫn bên máy dệt đã giúp chị Phạm Thị Sen có cuộc sống ổn định.

Căn nhà của chị Phạm Thị Sen trên đường Đồng Nai, phường Phước Hải, TP. Nha Trang tuy không nhỏ nhưng vẫn trở nên chật chội khi vừa phải chứa 4 máy dệt, 1 máy ống, 1 máy se cước vừa là nơi sinh hoạt gia đình. Cao, gầy và khá trẻ so với tuổi 44, đó là ấn tượng đầu tiên của chúng tôi về chị, người phụ nữ nhiều năm liền được bình chọn là phụ nữ điển hình làm kinh tế giỏi của phường.

Năm 1989, gia đình chị từ TP. Nam Định  vào TP. Nha Trang sinh sống. Mua được căn nhà nhỏ nằm ở khóm An Bắc, phường Phước Hải, chị quyết định lập nghiệp trên vùng đất mới bằng chính nghề dệt lưới truyền thống. Ban đầu, không đủ tiền sắm máy dệt, chị cùng anh lặn lội khắp nơi tìm từng khúc gỗ cũ, gỗ bỏ về cặm cụi cưa cưa, đục đục để đóng khung dệt. Sau 3 tháng vừa đóng vừa sửa, khung dệt đã cho ra mẻ lưới hoàn chỉnh đầu tiên. Cột những tấm lưới từ khung dệt đầu tay của 2 vợ chồng lên chiếc xe đạp cũ, chị rong ruổi khắp thành phố để rao bán. Đi được vài ngày chị nhận thấy nếu cứ duy trì theo cách bán này khó có thể trụ và phát triển được nghề. Sau nhiều ngày suy nghĩ, chị mạnh dạn tìm đến các cửa hàng bán vật dụng đi biển ký gửi hàng với giá rẻ hơn mặt hàng cùng loại. Khi nhận  được tin sản phẩm của mình đã bán hết sau một tuần ký gửi, chị đã bật khóc nức nở, khóc vì hạnh phúc, “vì biết mình đã sống được với nghề, gia đình sẽ không đói”.

Nhờ hàng dệt đẹp, bền, lại biết giữ chữ tín trong buôn bán nên sản phẩm của gia đình chị ngày càng được tiêu thụ nhiều, vốn liếng cũng từ đó mà tăng lên. Có vốn, chị lại đầu tư mua máy móc, nhà xưởng, nhận nhân công vào dạy nghề trả lương theo sản phẩm. Hỏi về nghề, chị cười nói “chọn nghiệp này thì khó giàu lắm, nhưng làm cũng đủ nuôi gia đình cùng với chục người thợ”. Quy mô sản xuất gia đình chị còn nhỏ nhưng để có được cơ ngơi như ngày hôm nay chị cũng đã đánh đổi biết bao mồ hôi, công sức.

Gia đình chị Cao Thị Chung đầm ấm trong căn nhà mới.

Đến xóm 6, thôn Đá Mài, xã Diên Tân, huyện Diên Khánh, ngôi nhà mới xây theo kiểu kiến trúc biệt thự của chị Cao Thị Chung - người dân tộc Raglai - nổi bật giữa hàng chục ngôi nhà định canh định cư dọc 2 bên đường. Khi chúng tôi đến, chị đang loay hoay với đám heo con được vài tuần tuổi. Vóc người nhỏ bé, nước da đen nhẻm vì thường xuyên phơi nắng, phơi gió trên nương rẫy nên trông chị già hơn nhiều so với tuổi 35 của mình. Chị nhớ lại: Trước đây nhà mình ở Khánh Bình (Khánh Vĩnh). Thuở nhỏ, mình theo cha mẹ đi đốt nương làm rẫy. Được vài vụ, cái rẫy bạc màu, lại đi. Cứ đốt rồi lại đi lần lần xuống đến đây. Đi miết như vậy mà vẫn đói. Mình sợ lắm. Mình gặp A Sa (người chồng hiện giờ của chị Chung) ở đây. Mình không đi nữa”.

Ngày ra ở riêng, gia tài của đôi vợ chồng trẻ chỉ vỏn vẻn có 1 cái rựa, 2 cái nồi, vài cái chén cùng với 5 sào đất rẫy bố mẹ chồng nhường lại. Nhìn mảnh đất khô cằn đầy cây dại như khuôn mặt của người già, người bệnh vợ chồng chị buồn lắm. Nhưng lòng đã quyết và tin vào đôi tay khoẻ mạnh của mình, hai vợ chồng chị thay phiên nhau từ sáng đến tối kẻ cuốc, người trồng chăm lo từng luống mì, cây bắp. Không phụ lòng người, 5 sào đất qua vài tháng đã phủ đầy một màu xanh của cây bắp, cây mì. Nhưng “bắp và mì không giúp mình hết đói, nhiều người trồng mía đã có cái ăn cái mặc, mình cũng phải trồng mía thôi”. Nói với chồng hôm trước, hôm sau chị lên Hội Phụ nữ xã vay 1,5 triệu đồng từ vốn xóa đói giảm nghèo, cộng với số tiền 2 vợ chồng dành dụm được, chị mua 1 ha đất đầu tư vào trồng cây mía. Chưa kịp mừng khi thấy cây mía vươn lên xanh tốt, gia đình chị lại rơi vào cảnh trắng tay, túng quẫn vì mía mất giá. Nhìn đám mía cứ đỏ quạch, khô đi rồi chết, lòng chị đau lắm. Nhưng không thể để cái đói, cái khổ thắng mình. Chị đốn bỏ hết đám mía chết rồi nhờ Hội Phụ nữ xã đứng ra mua giúp 4 muôn (tương đương 40 ngàn) ngọn mía. Mía lên xanh bao nhiêu, đôi bàn tay chị lại chai sạn và sưng phồng lên bấy nhiêu. Mía ngày càng có giá. Vốn liếng của vợ chồng chị nhờ đó cũng tăng dần. Có vốn, chị vừa trồng vừa thu mua mía. Nghề thu mua mía giúp cho gia đình mỗi năm lãi ròng gần 10 triệu đồng. Nhìn 6 ha mía đang ở giai đoạn phát triển, chị cho biết, nếu giá mía năm nay không thay đổi, trừ hết chi phí sau khi thu hoạch, gia đình chị cũng lời được khoảng 35 triệu đồng.

Được tập huấn về kỹ thuật, chị Nguyễn Thị Mỹ Thu đã chọn nuôi bò để thoát nghèo.

Lạ nước lạ cái nên dò dẫm mất nửa buổi chiều chúng tôi mới tìm được đến nhà chị Nguyễn Thị Mỹ Thu ở thôn Tiên Du 2, xã Ninh Phú, huyện Ninh Hòa. 

Vùng đất này vốn khắc nghiệt. Đất ở đây là loại đất pha cát nên trồng cây gì cũng khó. Vì thiếu nước nên cây chết khô, chết đứng. Cấy lúa vì phải “ăn theo nước trời” nên một năm chỉ làm được một vụ vào mùa mưa. Mùa gió đến thì cây cối cũng xác xơ, nghiêng ngả tránh làm sao con người không “héo”. Vậy mà chị đã gắn bó với mảnh đất này hơn 15 năm rồi, từ cái ngày chị thương anh thương binh Huỳnh Văn Thu từ chiến trường K trở về và nhận lời theo anh về đây xây dựng hạnh phúc. Mái ấm của anh chị là túp lều tranh đơn sơ giữa vùng đất nghèo. Đã có lúc trong nhà chẳng còn gì để ăn, anh Thu phải đào “trộm” củ mì của bố mẹ mình. Cuộc sống khó khăn quá nên cũng chẳng tránh khỏi một đôi lần 2 vợ chồng “lịch xịch”, nhưng những lúc bí bách ấy anh chị lại tự động viên nhau rằng chả ai nghèo mãi, ăn thua là mình có chịu cố gắng hay không thôi, chỉ cần 2 vợ chồng mình ráng chịu khổ cực thì khổ mấy cũng sẽ qua.

“Nói không ngoa chứ vợ chồng tôi đã từng “lên rừng xuống biển” đấy chứ”, chị Thu kể. Có một thời không xa, như phần nhiều người dân nơi đây, chị và anh cũng trong đoàn người lên rừng chặt củi đốt than để kiếm sống. Bây giờ Nhà nước cấm rồi nên chỉ còn xuống biển thôi. Mỗi tháng 2 lần con nước, vợ chồng, con cái lại lao ra biển đào ốc, phi để bán cho con buôn làm thức ăn nuôi tôm. Người lớn được chục ngàn/ngày còn trẻ con cũng được đôi ba ngàn. Tằn tiện mãi, anh chị cũng dành dụm được một số vốn kha khá. Nghĩ đi nghĩ lại chỉ có chịu khó trồng trọt, chăn nuôi là chắc chắn nhất, với 10 triệu của nhà, chị vay thêm Hội Phụ nữ 5 triệu nữa tậu được 2 con bò. Quanh năm không cho đất nghỉ, chăm chút cho 5 sào ruộng. Vụ nào không trồng lúa được thì trồng màu. Đất có khắc nghiệt đến mấy thì chịu khó cũng vẫn có kết quả. Đất vườn quanh nhà, anh chị trồng nào bắp, rau cải, cỏ voi nuôi bò. 

Cái cách anh chị xây nhà cũng đúng kiểu “kiến tha lâu…”. Người ta làm nhà ào ào là xong còn nhà mình từ lúc mua được cây gỗ đầu tiên đến khi cất xong ròng rã 10 năm trời. Nhìn căn nhà nhỏ nhưng khang trang, anh chị rành rọt: Đặt gỗ dàn trên năm 1997, cột sớm hơn, đặt khung cửa năm 1998, đặt rui, mè, mua gạch, ngói, xi măng… cứ mỗi lúc một ít. Cất nhà rồi mà cứ ngỡ trong mơ.

Chị là lớp con cháu của người con theo mẹ Âu Cơ lên rừng. Chị là lớp con cháu của người con theo cha Lạc Long Quân xuống biển. Nhưng dù ở nơi đâu, mỗi người một cách, các chị đã vượt lên số phận bằng sức lực và ý chí. Khi những giọt mồ hôi của “phụ nữ Việt Nam hay lam hay làm” (Bài ca phụ nữ Việt Nam, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý) ấy đổ xuống, từ sỏi đá đã hóa những bát cơm thơm.

KHÁNH NINH - THẢO LY

Gửi tin này qua E-mail In thông tin Gửi phản hồi
CÁC TIN KHÁC >>
Vui buồn hai nửa dòng đời (15/10/2004)
Sống còn… Hải sâm cát (11/10/2004)
Hòn Gốm: “Chảy máu” vì sa khoáng (03/10/2004)
Sữa bò cho… heo (25/09/2004)
Chuyện học ở vùng cao... (06/09/2004)
Xôn xao Rạn Trào (02/09/2004)
Tôi làm gia sư (28/08/2004)
Xót đắng vì… tôm (25/08/2004)
Về Ngư Thủy nuôi tôm (11/08/2004)
Nỗi đau của những người mẹ (05/08/2004)
Đi tàu chợ (26/07/2004)
Muôn nẻo xe thồ (19/07/2004)
Tôi đi thuê nhà trọ (13/07/2004)
Trong thế giới "Đì zay" (DJ) (22/07/2004)
Thủy Triều lên (11/08/2004)