NHÂN NGÀY HỌC SINH, SINH VIÊN 9-1
Những nhà khoa học tuổi… sinh viên
09:19' 09/01/2006 (GMT+7)

Năng động, tự tin và đầy nhiệt huyết, đó là những phác họa đầu tiên về Hải “cận”, Lự “ròm”, Thư “còi” - những sinh viên thuộc thế hệ 8X, vừa đoạt giải tại Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2005 diễn ra tại trường Đại học Thủy sản (ĐHTS).

Phạm Thị Minh Hải bên hệ thống lọc sinh học bằng tấm tôn nhựa.

° Phạm Thị Minh Hải và hệ thống lọc sinh học

“Lọc sinh học là phương pháp “tái sinh nước” nhờ vào các vi khuẩn dị dưỡng bám trên các giá thể, chuyển các chất hòa tan độc hại đối với thủy sinh như N-NH4+, N-NO2-, H2S… thành dạng ít độc hơn. Lọc sinh học đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới nhưng do điều kiện kinh tế - xã hội khác biệt nên không thể áp dụng trực tiếp vào Việt Nam, nguyên nhân là do khó khăn về khả năng sử dụng và tính kinh tế của giá thể. Nghiên cứu của em là tìm loại vật liệu rẻ tiền làm giá thể vừa dễ áp dụng lại đáp ứng được các yêu cầu của hệ thống lọc sinh học, phù hợp với mô hình nuôi tôm thương phẩm nhỏ và vừa ở Việt Nam. Các loại vật liệu em nghiên cứu là vỏ sò, san hô và hạt nhựa. Trong đó, hạt nhựa cho kết quả lọc tốt nhất” - mở đầu câu chuyện, Hải khái quát cho tôi về nội dung đề tài nghiên cứu vừa đoạt giải của mình. Vừa nói, Hải vừa dẫn tôi đi xem mô hình bể lọc sinh học thu nhỏ có sử dụng hạt nhựa làm giá thể, được cha mình áp dụng tại nhà để nuôi… cá rô phi. Thấy tôi ngạc nhiên vì trong bể lọc có cả tấm tôn nhựa, Hải giải thích “Do hạt nhựa có giá thành cao nên em đang thử nghiệm tấm tôn nhựa làm giá thể. Kết quả rất khả quan, nếu thành công thì sử dụng tôn nhựa sẽ giảm được 2/3 chi phí so với hạt nhựa”.

Nhiệm vụ mà cô bé cận 2 “điốp” đặt ra cho mình hiện nay là phải tập trung ôn thi học kỳ, sau đấy sẽ tiếp tục nghiên cứu sâu về đề tài này. Còn dự định tương lai sẽ học tiếp lên cao học với mơ ước được trở thành nhà khoa học về công nghệ sinh học.

Hoàng Ngọc Lự.

° Hoàng Ngọc Lự với đề tài ấp nở và nuôi ấu trùng ghẹ xanh

Sinh ra ở Nam Định, từ nhỏ Lự rất thích trồng cây và mơ ước của Lự “ròm” (biệt hiệu từ thời tiểu học) là trở thành kỹ sư lâm nghiệp. Không thi đỗ vào trường đại học mình mơ ước, Lự theo bạn thi vào trường ĐHTS… cho vui, không ngờ lại đậu với điểm số khá cao. Gần 4 năm học về NTTS, Lự “mê” ngành học này lúc nào không hay, ý định lên rừng của Lự cũng mất luôn từ đấy. Đề tài khoa học “Ấp nở và ương nuôi ấu trùng ghẹ xanh” đến với Lự khá tình cờ. Khi đưa ý tưởng nghiên cứu về… cua làm đề tài dự thi, Lự được thầy cô trong khoa khuyên nên chuyển sang… ghẹ vì ghẹ là loại thủy sản từ trước đến nay ít có công trình nghiên cứu. Tham khảo nhiều ý kiến, Lự chọn nghiên cứu sản xuất giống vì ghẹ xanh (Portunus pelagiccus) rất dễ nuôi, có thể nuôi xen canh, luân canh với các ao nuôi tôm sú, cũng có thể nuôi trong các rừng ngập mặn, ít gặp dịch bệnh hơn so với một số đối tượng thủy sản khác, nhưng chưa có nhiều đề tài nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo về ghẹ. Trong khi đó, nhu cầu nuôi thương phẩm lại rất cao mà nguồn giống thu vớt ngoài tự nhiên lại bấp bênh về số lượng, chất lượng, kích cỡ không đồng đều, dễ bị dịch bệnh. Cũng vì lý do đó, Lự nhiều phen lao đao “dở khóc, dở cười” vì nguồn giống, “ấn tượng nhất là giai đoạn đầu thực hiện đề tài, bao nhiêu con ghẹ trứng em mua về lấy giống đến ngày ấp nở ấu trùng thì tự dưng… ngã bệnh, xả hết trứng. Tưởng đề tài không thực hiện được, may mà các con ghẹ thử nghiệm đợt sau đều khỏe mạnh” - Lự cười khi nhớ về tai nạn nghề nghiệp lúc thực hiện đề tài.

Kết quả nghiên cứu tỷ lệ sống trong ương nuôi ấu trùng từ Zoea 1 đến ghẹ bột của Lự đạt 10,34 ± 1,74% (bằng với kết quả nghiên cứu cùng đề tài cấp Trung ương). Do thiếu kinh phí, thời gian thực hiện đề tài không nhiều nên nghiên cứu của Lự chỉ ở giai đoạn ương, nuôi ấu trùng ghẹ xanh. “Mong muốn lớn nhất của em là tiếp tục được nghiên cứu giai đoạn từ ghẹ bột lên ghẹ thương phẩm” - Lự nói. Để thực hiện ước mơ ấy, chàng sinh viên đang chờ nhận bằng tốt nghiệp này dự định sẽ cùng với người bạn về quê mở trại ương, nuôi và bán giống cua, tích luỹ kinh phí để tiếp tục nghiên cứu về… ghẹ.  

Phan Đỗ Anh Thư.

° Phan Đỗ Anh Thư và sản phẩm cá cơm chiên chân không

Mê món cá cơm từ nhỏ nên ngay khi đăng ký đề tài nghiên cứu khoa học cấp khoa (Thư là sinh viên khoa Chế biến), Thư “còi” không đắn đo chọn cá cơm làm nguyên liệu chính cho đề tài. Một nguyên nhân khác để Thư chọn cá cơm là: “Cá cơm là loài cá có nhiều chất dinh dưỡng, trữ lượng khai thác lớn, nhưng hiện nay chỉ được dùng để sản xuất nước mắm, còn đến tay người tiêu dùng qua hình thức ăn tươi hoặc phơi khô không nhiều. Tại sao mình không tạo ra một sản phẩm cá cơm ăn liền như sản phẩm snack” - Thư tự hỏi. Và thế là đề tài nghiên cứu chế biến cá cơm chiên chân không của Thư ra đời.

Tuy đề tài nghiên cứu khoa học của Thư chỉ đoạt giải khuyến khích, nhưng đối với cô bé, đó là cả một niềm hạnh phúc. Mong ước của Thư hiện nay là sản phẩm sớm xuất ra thị trường vì nếu được người tiêu dùng chấp nhận, nó không chỉ làm phong phú thêm mặt hàng, giải quyết đầu ra, tăng giá trị sử dụng cho loại cá cơm thường mà người tiêu dùng còn được sử dụng trực tiếp loại thực phẩm  sạch, giàu chất dinh dưỡng”.

THẢO LY

Gửi tin này qua E-mail In thông tin Gửi phản hồi
CÁC TIN KHÁC >>
Chuyện người nổi “máu liều” làm du lịch (28/12/2005)
Những ước mơ từ biển (24/12/2005)
Vì đâu Bến Trâu biến mất? (15/12/2005)
Những người đo dòng nước lũ (07/12/2005)
Đâu phải tội con gà! (30/11/2005)
Gia đình vé số (16/11/2005)
Cộng hòa Pháp – Những điều bắt gặp trên đường đi (10/11/2005)
Thổ Nhĩ Kỳ-Độc đáo đất nước nằm giữa hai châu lục (10/11/2005)
Nuôi chó thời @ (05/11/2005)
Chuyện ở một hợp tác xã anh hùng (01/11/2005)
Chạy đua cùng… thần chết! (29/10/2005)
Những người con dâu hiếu thảo (25/10/2005)
TQT - Con đường đến với danh hiệu anh hùng (17/10/2005)
Một ngày trong vịnh Nha Trang (13/10/2005)
Mùa cưới (08/10/2005)