Dông, một loài bò sát thường sống ở đồi cát ven biển. Từ một loài vật hoang dã được con người đem về nuôi, con dông đã sớm khẳng định được giá trị. Dông dễ nuôi, dễ chăm sóc, lại có hiệu quả kinh tế. Thịt dông còn là vị thuốc bổ và là thức ăn khoái khẩu của nhiều thực khách.
° Những người tiên phong
|
| Anh Nguyễn Ngọc Em với chiếc bẫy dông. |
“Đây là mấy con dông tôi mới bẫy chiều hôm qua. Dông coi vậy mà ngốc, chỉ cần đặt lồng, bỏ thức ăn buổi chiều cho tới sáng mai là “ổng” vào đầy… Bằng cách này, mỗi bữa tôi bắt vài con đem bỏ mối cho mấy quán nhậu đặt trước”… vừa nói, anh Em vừa đặt chiếc lồng xuống đất. Trong chiếc lồng hẹp, 4 - 5 con vật hơi giống con tắc kè nhưng màu sắc sáng hơn đang nhốn nháo tìm cách chui ra. Anh Em khôi hài: “Lồng có cắt rãnh ở phía trên, “ổng” chui vào được mà ra không được, cứ luẩn quẩn mãi…”
Anh Nguyễn Ngọc Em, 49 tuổi (Hương Long, Ba Ngòi, Cam Ranh) kể tôi nghe về “hành trình” tìm cách nuôi dông của anh. “Hồi đó (năm 2004) Khánh Hòa chưa có ai nuôi dông. Nghe thông tin ở đâu đó, chú Hoàng Gia Ánh, lúc bấy giờ là Chủ tịch Hội Nông dân phường Ba Ngòi bàn với một số anh em trong Hội đi Bình Thuận, Ninh Thuận học hỏi cách nuôi dông. Sau đó, anh em trong chi hội của phường như tôi, anh Ngọc Sơn, anh Năm Đi, Năm Thanh và anh Ba cũng lên đường…”
Dông là loài sống ở đồi cát ven biển, ưa khí hậu nóng, nhất là mùa hè, thức ăn của dông chủ yếu là lá cây. Những vùng đồi cát có nhiều rau dại như sam, chành rành, muống biển… dông rất thích ở và đào hang. Từ tháng 3 đến tháng 6 âm lịch, dông sinh trưởng mạnh nhất. Lợi dụng tập tính này, nhiều người đi bắt dông về bán. Có nhiều cách bắt dông tự nhiên như: đặt lồng (lồng kẽm, lồng cước), đào hang… Những ngày nắng nóng, không có giông, một người có thể bắt được 3 - 5kg dông, ngày trời mát, dông ít lên, bắt được ít.
Bán đảo Cam Ranh là vùng có nhiều dông. Dọc theo các bãi cát từ bãi Hòn Xe đến Vùng 4 Hải quân, Bãi Dài đều có dông. Nhiều người đi ghe đến Bãi Dài ở lại 5 - 7 ngày để bắt dông.
Anh Em cho biết: “Ở Ninh Thuận, Bình Thuận, người ta nuôi dông rất mạnh, có hộ nuôi 2 - 3 ha, chia ra từng khu vực để phân loại theo kích cỡ, tránh tình trạng dông tranh giành thức ăn, tranh giành mái, cắn nhau gây thương tích, chậm lớn…”. Sau khi tham quan học hỏi các mô hình, các anh trở về bắt tay vào nuôi dông.
° Một nghề an nhàn
|
|
Anh Lĩnh đang thăm chuồng dông của mình. |
Anh Em đưa tôi ra xem chuồng dông của anh. Anh dặn trước: “Muốn xem được dông phải nhẹ nhàng chứ nghe động là dông chạy mất…”. Tôi rón rén áp sát cửa chuồng như kiểu lính đặc công vào trận. Trên vồng cát giữa chuồng, dưới tán cây trứng cá, chao ôi nào là dông, dông lớn, dông bé, dông có mào đỏ, không có mào đỏ nghiêng ngó, chạy qua, chạy lại… Hiếm lúc nào mục kích được cảnh dông đang ăn. Vô tình tôi trượt chân. Nghe tiếng động, bầy dông lủi mất tăm. Tôi nghĩ vui: Chắc tên “dông” cũng ra đời từ đây.
Chuồng dông được xây tường bao bằng gạch thẻ, phía trên có đặt tôn trơn láng không cho dông trèo ra ngoài, đáy lót gạch để thoát nước. Phía trong chuồng đổ cát có pha đất dày 60 - 70cm. Anh Em cho biết: nơi vắng người, ít chó, mèo thì xây tường thấp; nơi ồn ào, có nhiều chó, mèo, xây tường cao để bảo vệ. Ở Phan Thiết, có “đại gia” xây tường bằng gạch men. Trước khi thả giống, đổ cát thành vồng sống trâu và trồng một ít cây bóng mát. Ngày cho dông ăn một lần vào lúc 7 - 8 giờ sáng. Thức ăn là các loại rau quả, phế, phụ phẩm nông nghiệp như: bắp sú, xà lách, rau muống, giá, cà chua… Địch hại sợ nhất là chó, mèo. Dông cái đẻ một lần 2 - 3 trứng, vùi vào cát, ấp bằng sức nóng mặt trời, sau đó nở ra con. Vào mùa sinh sản, dông đực và cái bắt cặp giao phối trông rất ngộ nghĩnh giống như kiểu thằn lằn vờn nhau…
Sau 5 tháng nuôi từ chuồng nuôi ban đầu rộng 100m2, anh Em đã phát triển thêm một chuồng nữa bên cạnh rộng 160 m2. Cả 2 chuồng anh thả tổng cộng 1,4 tạ dông. Anh cho biết: Nuôi dông khá kinh tế, không mất công chăm sóc, chỉ đến bữa cho ăn. Từ khi nuôi đến nay tôi đã bán hơn 150kg. Cứ 3 - 4 ngày bắt một lần 5kg bỏ mối cho các quán nhậu (2 - 3 quán) trong vùng. Giá bán từ 100.000 - 120.000 đồng. Hiện nay, người nuôi nhiều, quán nhậu nhiều, dông không có mà bán. Nếu có diện tích rộng, nuôi dông rất kinh tế.
Chuồng nuôi dông của anh Bảy Lĩnh (Vĩnh Ngọc, Nha Trang) cũng giống như chuồng dông của anh Em ở Cam Ranh. Anh Lĩnh cho biết thêm một số kinh nghiệm: Khi nuôi, tỷ lệ đực, cái phải đạt 50 - 60%. Nếu nhiều con đực phải lọc bớt bằng lồng. Dông đực có mình màu đỏ, cổ có bông, nặng hơn, phát triển nhanh hơn dông cái. Dông đẻ trứng từ tháng Giêng đến tháng Sáu âm lịch, một năm đẻ 2 lứa, rồi nghỉ đông. Sau lần đẻ thứ nhất 1 - 2 tháng đẻ lại nếu cho ăn đầy đủ. Dông trưởng thành 2 - 3 tháng đã có trứng. Dông cái đẻ 4 - 5 ngày mới lên khỏi hang, mùa đông dông không lên. Anh Lĩnh còn bật mí thêm kinh nghiệm làm chuồng: Tôn làm chuồng phải dùng vít bắt tích-kê mới bảo đảm, nếu đóng đinh dễ tạo kẽ hở, dông vẫn trèo ra được. Chú ý chó, mèo nhảy vào. Hàng ngày phải phun nước 2 - 3 lần để giảm nhiệt độ nhất là những ngày nắng nóng. Trồng một số cây tạo bóng râm cho dông nghỉ ngơi. Đặt gạch, tôn fibrô làm hang giả dọc theo bờ tường để làm chỗ trú cho dông chống nóng, mất nước, sốc lạnh…
Trên 450m2 đất, anh Lĩnh thả khoảng 50kg giống (20 - 25 con/kg), bình quân thả 20 - 25 con/m2, giá mua giống 80.000đ/kg sa cạ. Sau 5 tháng nuôi, anh bắt dông bán lai rai đến nay cũng được vài chục ký, giá bình quân 100.000đ cho các nhà hàng, khách sạn có nhu cầu. Anh Lĩnh cho biết: Nghề nuôi dông rất nhàn. Nghề này thích hợp cho những người nghỉ hưu, mất sức lao động, phụ nữ, trẻ em, lao động nông nhàn… và là nguồn kinh tế phụ có hiệu quả. Hiện nay các nhà hàng, khách sạn đều có thịt dông chế biến với nhiều món ăn đặc sắc.
° Thịt dông trên bàn nhậu
|
|
Món thịt dông ướp lá lốt vừa ngon lại có thể chữa phong, đau nhức. |
Nghe nói thịt dông ngon, tôi quyết… ăn cho bằng được. Chiều Chủ nhật, tôi rủ người bạn gần nhà “lên đường” thưởng thức thịt dông. Sau một hồi tìm kiếm, chúng tôi đến nhà hàng S.T ven sông Cái. Anh quản lý nhà hàng tên T. bảo tôi chọn dông, cân lên được bao nhiêu tính tiền bấy nhiêu, mỗi ký giá 160.000đ. Nhà hàng có 5 món dông mà dân nhậu hay dùng là: dông nướng muối ớt, dông xào sả ớt, dông băm xúc bánh tráng, dông xào lăn và dông nướng lá lốt.
Theo yêu cầu của chúng tôi, nhà hàng làm món dông nướng muối ớt. Sau 15 phút, món ăn được bưng lên, mùi thịt nướng thơm phưng phức. Thịt dông ngon, ngọt, dai nhưng mềm. Ăn đến đâu vị ngọt lan tỏa đến đó. Sau món nướng muối ớt là món thịt dông xúc bánh tráng, rồi dông ướp lá lốt. Món nào cũng ngon. Tuy nhiên, độc đáo nhất vẫn là dông nướng muối ớt.
Hiện nay, thịt dông được bán ở nhiều nhà hàng, khách sạn, quán nhậu trong và ngoài thành phố, chế biến thành nhiều món. Dông từ một món ăn ít người biết nay đã trở thành món nhậu đặc sản, được nhiều người yêu thích. Nghề nuôi dông cũng nhờ thế mà phát triển.
QUANG VIÊN
Lương y Nguyễn Hữu Định, Phòng Chẩn trị Đông y Nam Định, Cam Phước Đông, Cam Ranh cho biết: Thịt dông có tác dụng bổ phế, bổ tỳ, chữa viêm khớp, đau nhức, tê bại, chống phong, chữa ghẻ lở, rôm sảy. Thịt dông + lá lốt: chữa phong, chống đau nhức; thịt dông + tía tô: bổ phế; thịt dông + lá mãng cầu: giảm phong, ổn định huyết áp; thịt dông + lá bồ ngót: bổ huyết, bổ tỳ. Tác dụng thịt dông giống tắc kè: bổ phế, bổ thận.
| |