Chiếu Thủy Tú từng được biết đến như một nét văn hóa đẹp của người dân xã Vĩnh Thái - Nha Trang. Theo thời gian, chiếu Thủy Tú cũng trải qua nhiều thăng trầm. Năm 2001, những người có tâm huyết đã mong muốn khôi phục lại làng nghề truyền thống này và biến nơi đây thành điểm tham quan cho khách du lịch. Nhưng…
° Ngẩn ngơ… đồng cói
|
|
Chiếu Thủy Tú luôn trong tình trạng “cháy hàng”. |
Trên đường về Thủy Tú, tôi gặp 2 mẹ con bà Mười khi họ đang rũ cói (lác) bên đường. Nghe tôi hỏi về đồng cói, bà Mười ngừng tay ngước mắt nhìn về phía cánh đồng xa - nơi hàng đoàn xe đang nối đuôi nhau đổ đất biến cánh đồng trồng cói ngày nào thành mặt bằng cho một khu đô thị của tương lai. Ánh mắt bà buồn xa xăm. Những ký ức về cánh đồng cói bát ngát, về một thời “hoàng kim” của làng nghề dệt chiếu bất giác trở về trong tâm trí bà. Ngày ấy, chiếu Thủy Tú có mặt ở khắp nơi trong và ngoài tỉnh. Người ta biết đến chiếu Thủy Tú như là một nét đẹp văn hóa. Vậy mà giờ đây, cánh đồng cói đang biến dần thành những khu dân cư, những ao đìa nuôi tôm. Không có nguồn nguyên liệu, những người còn gắn bó với nghề phải nhập cói từ đồng bằng sông Cửu Long, hoặc từ một số tỉnh miền Trung. Do chi phí tăng, lợi nhuận giảm, không ít người đã quay lưng lại với nghề để đến giờ này, cả làng, xã chỉ còn chưa đầy 80 hộ dân gắn bó với nghề.
Đồng cói bây giờ chỉ còn lại cái tên. Bởi cả cánh đồng chỉ còn chừng vài ha cói nằm rải rác mỗi nơi một mảnh. Lẫn trong những đồng cói là những cọc bê tông phân lô, đón đầu quá trình đô thị hóa. Phía bên kia cánh đồng, từng đoàn xe tải chở đất san nền tấp nập hoạt động.
Bên cạnh quá trình đô thị hóa, sự chiếm lĩnh thị trường của chiếu nhựa, chiếu trúc… cũng đã khiến chiếu Thủy Tú lao đao. Chiếu làm ra không tiêu thụ được nên người dân đành xếp lại nghề dệt chiếu. Hàng chục ha cói bị bỏ hoang. Chiếu Thủy Tú tưởng chừng đã chết. Gặp đúng lúc bùng nổ phong trào tôm sú, thế là phần lớn diện tích đất trồng cói biến thành những ao đìa nuôi tôm… Từ mấy chục ha đất trồng cói trước đây, giờ chỉ còn vài ba ha trồng rải rác ở những chân ruộng xấu. Do không được quan tâm chăm sóc nên diện tích cói còn sử dụng được không nhiều. Không có nguồn nguyên liệu, nghề dệt chiếu Thủy Tú cứ thu hẹp dần và đang đứng trước nguy cơ mai một.
° Hẩm hiu… đời chiếu
|
|
Những “sản phẩm” chiếu vừa mới... “ra lò”. |
Tôi vào làng Thủy Tú. Bây giờ ở đây không còn cảnh tấp nập người người, nhà nhà dệt chiếu, thay vào đó là sự ồn ào của những quán nhậu, quán bi da… Đi từ đầu làng đến cuối xóm tôi chỉ thấy vài ba nhà có cói phơi trên sân. Rẽ vào một ngôi nhà bên đường, tôi bắt gặp một hình ảnh thật đẹp. Trước hiên nhà, dưới những tán cây râm mát, 2 người phụ nữ đang nhanh tay dệt chiếu. Bên cạnh, một đứa trẻ bi bô chơi đùa. Khung cảnh thật thanh bình.
Ngỡ tôi là khách du lịch, chị Ngọc Hạnh và chị Kim Tuyền than: “Lâu lắm mới có người đến xem dệt chiếu; không như trước đây, mỗi ngày hàng trăm khách du lịch đến tham quan, chụp ảnh lưu niệm, mua chiếu…”. Rồi vừa nhanh tay làm việc, 2 chị vừa giới thiệu với tôi về nghề dệt chiếu truyền thống của làng quê mình…
Nghề dệt chiếu ngỡ đơn giản nhưng thật ra khá công phu. Khi cói đến kỳ thu hoạch, cắt cói xong phải chẻ ngay nếu không cói sẽ bị khô, sau đó mới đem phơi, loại bỏ phụ phẩm và nhuộm cói. Cói thường được nhuộm 3 màu sặc sỡ là xanh, vàng, đỏ, nhưng khi dệt, người thợ phải biết kết hợp màu sắc sao cho hài hòa, thanh nhã. Và đây chính là nét riêng làm nên danh tiếng của chiếu cói Thủy Tú. Nếu chiếu dệt ở các địa phương khác thường được làm đơn giản bằng cách giữ nguyên màu sắc của sợi cói, sau khi dệt xong, tùy theo sở thích có thể giữ nguyên màu xanh của chiếu, hay có thể in hình rồng, phượng, hoa văn trang trí… thì với chiếu Thủy Tú, cói được nhuộm từ trước. Nhuộm xong, cói được phơi 1 nắng cho se rồi bó thành từng bó để dành dệt dần.
Sợi dệt chiếu cũng được làm rất kỳ công, cẩn thận. Người thợ giỏi, se sợi không quá lớn mà cũng không quá nhỏ. Nhỏ quá thì chiếu không bền chắc, lớn quá thì tấm chiếu sẽ thô. Thuở trước, sợi chiếu Thủy Tú được làm từ sợi cây rứa, cây trân có rất nhiều trên núi, nhưng theo sự phát triển của làng nghề, 2 loại cây này đã dần cạn kiệt. Hiện nay, sợi chiếu được làm từ sợi đay nhập từ các tỉnh phía Bắc.
|
|
Lơ thơ... đồng cói! |
Đặc điểm của nghề dệt chiếu là phải có 2 người làm (nhất là trong 2 khâu chẻ cói và dệt). Thợ giỏi, mỗi ngày có thể dệt từ 2 - 4 đôi, tùy từng loại chiếu: 1,2m hay 1,6m. Giá bán hiện nay là 60.000đồng/đôi (chiếu 1,2m), 80.000 đồng/ đôi (chiếu 1,6m). Nếu là chiếu đặt, giá có thể lên đến 100.000 - 120.000 đồng/đôi. Giá chiếu tuy cao, nhưng chi phí nhiều nên lãi ít, chỉ 15.000 - 30.000 đồng/ngày công/người. Chính điều này đã khiến nhiều gia đình, lao động không mặn mà với nghề dệt chiếu.
Tuy nhiên, một ưu điểm đã giúp nghề dệt chiếu Thủy Tú sống được đến nay chính là tận dụng được nguồn lao động nông nhàn, kể cả những người già, con trẻ. Chỉ cần có cói để sẵn trong nhà thì bất cứ lúc nào, dù nắng hay mưa người ta đều có thể đem ra dệt. Một điều đáng mừng nữa là vài năm trở lại đây, thị trường chiếu cói lại được khôi phục và chiếu Thủy Tú luôn trong tình trạng “cháy hàng”. Chiếu dệt đến đâu tiêu thụ đến đấy. Không chỉ tiêu thụ trong tỉnh, chiếu Thủy Tú còn được đưa đi tiêu thụ tận Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận… Chiếu dệt xong, thương lái đến tận nhà thu gom và trả tiền ngay. Tuy nhiên, do thiếu nguồn nguyên liệu, lợi nhuận thấp nên nghề dệt chiếu vẫn chưa thực sự hấp dẫn được người dân quay lại với nghề.
Trao đổi với chúng tôi, ông Đặng Minh Đức - Phó Bí thư Đảng ủy xã, Chủ nhiệm Hợp tác xã Vĩnh Thái không giấu được sự tiếc nuối: “Nếu nghề này mai một thì thật tiếc. Đây không chỉ là một nghề truyền thống cha ông để lại, một nét đẹp văn hóa mà còn giúp giải quyết việc làm cho không ít lao động nông nhàn của địa phương, nhất là trong lúc diện tích đất sản xuất đang dần bị thu hẹp… Lãnh đạo xã đang đặt vấn đề “dồn điền đổi thửa” để khôi phục lại một số diện tích cói trên những chân ruộng nhiễm phèn, nhiễm mặn. Nếu không được 30 ha như trước đây thì 10 ha - đủ giải quyết nguyên liệu cho khoảng 150 hộ dân. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải có sự giúp đỡ, hướng dẫn của các cơ quan, ban ngành chức năng”.
NGỌC PHƯƠNG |