|
|
Tấm ảnh Bác Hồ và lời thề quyết tử bằng máu của Lê Bá Dương. |
Một phần thân thể, máu thịt của các anh, các chị - những người lính, người thanh niên xung phong - đã nằm lại đâu đó ở chiến trường… Trở về với cuộc sống đời thường trên mảnh đất Khánh Hoà, mỗi người đều có một công việc riêng nhưng phẩm chất của người lính cụ Hồ trong các anh chị không hề nhạt phai mà ngày càng ngời sáng.
Lê Bá Dương - Giữ mãi phẩm chất người lính
Đến bây giờ, tên tuổi Lê Bá Dương - cựu chiến sĩ thành cổ Quảng Trị không còn xa lạ với bạn đọc, bởi đã có nhiều bài báo viết về anh, nhất là chuyện anh thả hoa trên sông Thạch Hãn, anh cũng là tác giả bài thơ “Lời người bên sông”. Thế nhưng, ít ai biết rằng Lê Bá Dương còn là một thương binh, một người từng viết lời thề quyết tử, quyết giữ chốt đến cùng.
Hồi đó, sau 1 tháng thực hiện phương châm “Vây, lấn, tấn, phá, triệt, diệt”, quân ta đã siết chặt vòng vây ép cao điểm 544 (còn được gọi là cao điểm Pulơ nằm ở phía Tây Bắc huyện Cam Lộ) vào thòng lọng. Nhiệm vụ đánh trận quyết định để tiêu diệt cao điểm 544 - con mắt thần đặc biệt quan trọng trong hệ thống hàng rào điện tử Mắc-na-ma-ra được giao cho Tiểu đoàn 2 (thuộc Trung đoàn 27). Cân nhắc kỹ, Ban Chỉ huy Tiểu đoàn quyết định trao nhiệm vụ khó khăn này cho Trung đội trưởng Lê Bá Dương, người có kinh nghiệm qua hàng chục trận tấn công kết hợp chốt gan góc và hiệu quả. Khi trao cho Lê Bá Dương 3 quả pháo hiệu, Tiểu đoàn trưởng Bùi Xuân Các chỉ thị mà như tâm sự với người lính trẻ: “Trận chốt ngày mai sẽ là trận đánh một mất, một còn. Em hãy cố giữ lấy trận địa một ngày, để đến tối, tiểu đoàn lên lấy đó làm bàn đạp tấn công dứt điểm 544. Trong trường hợp không thể giữ được, hãy bắn pháo hiệu cho pháo binh ta bắn hủy trận địa!”
|
|
Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan thăm và tặng quà cho chị Ngọc nhân ngày Thương binh Liệt sĩ 27-7. |
Đúng như dự đoán! Sau khi chiếm lĩnh trận địa, Tiểu đoàn 2 tổ chức đào công sự, gài mìn chống tấn công… xong thì trời cũng hửng sáng. Tổ chiến đấu của Lê Bá Dương đã được “chào đón” bằng hàng loạt trận oanh kích của máy bay, xen kín từng đợt pháo cấp tập vào chốt dọn đường cho 2 đại đội tăng cường lính ngụy từ đỉnh 544 tiến ra hòng chiếm lấy ngọn đồi sinh tử. Phía ta, vẫn lối đánh chốt điềm tĩnh, gan góc và thông minh… Lê Bá Dương đã chỉ huy tổ chốt chặn hàng chục lần, hất các mũi tấn công của địch ngược về điểm xuất phát nơi yên ngựa, bỏ lại từng chồng xác lính ngụy. Tuy vậy, về phía ta, 2 trong số 4 chiến sĩ hy sinh, hai người còn lại cũng lần lượt bị thương nặng, cơ số đạn vơi dần. Đến 16 giờ, biết không còn sự lựa chọn khác, Lê Bá Dương cho nổ đồng loạt các quả mìn DH10 gài ngược về phía mình theo phương án hủy chốt. Lợi dụng địch chùng lại sau loạt mìn, Lê Bá Dương lấy trong túi áo tấm ảnh Bác Hồ, rồi dùng máu từ vết thương viết vào tấm ảnh dòng chữ: “Bác Hồ ơi, bắt đầu từ hôm nay 20-6, con cùng đồng đội bắt đầu nổ súng diệt địch, dự (giữ) chốt đến cùng. Quán diệt được 7 tên, Hòe, Dương, Thoòng mỗi người hơn một chục. Ghi sâu lời Bác dạy, hễ còn tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn chiến đấu quét sạch nó đi. Bác ơi, quyết tâm của chúng con, trách nhiệm của chúng con là dự chốt…”. Sau khi hôn ảnh Bác, Lê Bá Dương tiếp tục chuyền cho chiến sĩ trung liên Phùng Hòe làm theo và bình thản lấy 3 trái pháo hiệu lần lượt điểm hỏa. Ngay sau khi nhận được tín hiệu, pháo của ta đã cấp tập chụp thẳng vào chốt. Cả trận địa bấy giờ như chìm hẳn trong khói pháo quánh đặc. Sau này nghe đồng đội kể lại, Lê Bá Dương mới biết: Trận pháo kéo dài đến tối đã hất địch trở lại khu yên ngựa. Đội hình tiểu đoàn khi lên chốt chuẩn bị tấn công 544 đã phát hiện “xác” Lê Bá Dương cùng 3 đồng đội bị thương rất nặng, tưởng đã chết vì người sũng máu và bùn đất. Chính trị viên Ngô Ất rút từ túi áo Lê Bá Dương tấm ảnh Bác Hồ với lời thề viết bằng máu, ai nấy đều ứa nước mắt. Cũng đêm đó, tấm ảnh Bác Hồ và lời thề quyết tử viết bằng máu của Lê Bá Dương đã được chính trị viên Ngô Ất mang theo cùng đơn vị tấn công tiêu diệt hoàn toàn cao điểm 544. Trận đánh kể trên chỉ là một trong hàng chục trận đánh đặc biệt xuất sắc của Lê Bá Dương.
Nhập ngũ khi mới tròn 15 tuổi, Lê Bá Dương đã có những ngày tháng rèn luyện trong quân ngũ, mang đậm phẩm chất người lính Cụ Hồ. Trong chiến đấu anh dũng bao nhiêu, thì trong đời sống anh lại chân tình, đầy ân nghĩa bấy nhiêu… Năm 1976 khi chiến tranh vừa dứt, Lê Bá Dương đã lặng lẽ tìm về với mảnh đất Quảng Trị đau thương nhưng anh dũng để thăm đồng bào, thả hoa trên sông Thạch Hãn - mở đầu cho lễ hội thả hoa trên “dòng sông lửa” vào ngày 27-7 hàng năm. Chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm, nhưng anh không quên nỗi nhớ về một thời binh lửa, về những người bạn năm xưa. Là một thương binh nhưng Lê Bá Dương không muốn nói nhiều về điều đó, bởi với anh, những vết thương ấy có là gì so với những mất mát, hy sinh của đồng đội. Chính vì vậy, anh luôn cố gắng sống để không thẹn lòng với những người đã khuất, với bà con từng đùm bọc anh trong những năm tháng gian khó. Tưởng nhớ đồng đội, Lê Bá Dương đã từng vào ngủ đêm với các đồng đội đã hy sinh trong thành cổ Quảng Trị, một trong những lần đó là đêm 27-2-1987 vẫn còn in dấu trong thơ anh: “Giấc ngủ chập chờn giữa thành cổ/Nhòa trong sáng xanh đom đóm bay/Đồng đội ơi bao người nằm lại/Đã về thức cùng tôi đêm nay”. Cũng trong lần hành hương về miền đất lửa năm 1987, Lê Bá Dương đã nảy sinh ý tưởng chụp bộ ảnh “Đường cứu nước” như một cách khắc ghi công ơn của những người lính đã hy sinh vì độc lập, thống nhất nước nhà. Dưới ống kính rộng của anh, khoảng cách giữa 2 hàng bia mộ như con đường lớn uốn mình theo sườn đồi chạy hun hút vào ngàn xanh gợi nhớ đến không khí “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” năm xưa. Chiều 27-7-1987, sau khi thả hoa cho đồng đội, anh ngồi lặng bên bờ sông Thạch Hãn. Nhìn mái chèo hối hả khuấy tung bọt nước đưa thuyền ngược dòng lên chợ Quảng Trị, anh chạnh lòng nghĩ đến thân xác bạn bè, đồng đội đang nằm lặng lẽ đâu đó dưới đáy sông mà không khỏi xót xa. Tự nhiên trong lòng anh “bật” lên những câu thơ khắc khoải: Đò lên Thạch Hãn ơi… chèo nhẹ/Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/Có tuổi hai mươi thành sóng nước/Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm (Lời người bên sông). Có thể nói, bài thơ thấm đẫm nghĩa tình đồng đội này đã chạm đến nỗi đau tận cùng của sự hy sinh, mất mát trong chiến tranh, làm rung động lòng người. Tận tụy, hết mình với đồng đội, cuối năm 2007, Lê Bá Dương đã đứng ra tập hợp các cựu chiến binh năm xưa sưu tập tư liệu để làm cuốn sách “Trung đoàn 27 Triệu Hải - Nhật ký viết bằng văn vần”.
|
|
Nhà báo, cựu chiến binh thành cổ Quảng Trị trong một lần về thăm chiến trường xưa. |
Không chỉ với đồng đội, cách sống đầy nghĩa tình đã trở thành một nếp sống thường trực ở Lê Bá Dương. Trong nghề báo vốn có nhiều cạnh tranh, nhưng anh sẵn sàng chia sẻ tư liệu, thông tin với các đồng nghiệp như ngày xưa anh đã từng chia cho đồng đội từng miếng lương khô, từng cơ số đạn cuối cùng. Tôi đã từng được đọc những lá thư của các gia đình có con em đi Trường Sa gửi về cảm ơn Lê Bá Dương. Chuyện là, cứ mỗi lần đi Trường Sa, gặp những người lính đảo để chuyện trò lấy tư liệu, bao giờ anh cũng ghi lại đầy đủ tên họ của các chiến sĩ, địa chỉ gia đình... để rồi khi về đất liền anh lại rửa ảnh và gửi hình của những người lính trẻ về với gia đình của họ, kèm theo những lời động viên. Chao ôi, cái nghĩa cử ân tình giữa những người lính không cùng thế hệ, nhưng cùng chung lý tưởng mới đẹp làm sao. Từ Trường Sa nhìn về thành cổ, từ thời bình nhìn về thời chiến, phẩm chất người lính của Lê Bá Dương vẫn vậy: giản dị, chân tình.
Khi tôi viết những dòng này, Lê Bá Dương đã cùng con gái âm thầm tìm về với những người đồng đội cũ của anh ở Quảng Trị - vùng đất mà anh đã coi là quê hương thứ hai của mình.
Phan Thị Ngọc - Sống tốt theo lời Bác...
Những ai đã gặp chị Phan Thị Ngọc lần đầu đều không thể ngờ chị lại là một nữ thương binh nặng, tuổi đã xấp xỉ 60. Mới đây, khi Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đến thăm chị nhân ngày Thương binh Liệt sĩ 27-7, tuy chị đã ra tận cửa đón đoàn vậy mà bà cứ băn khoăn và có vẻ chờ đợi. Một lúc, bà hỏi: “Chúng ta đến thăm nhà thương binh, nhưng thương binh đâu rồi ?”. Chị vội trả lời: “Dạ em đây”, rồi kéo quần chỉ vào đôi chân đi nẹp cùng những vết thương trên người. Tất cả mọi người trong đoàn đều bất ngờ vì người thương binh nặng 1/4 lại là một phụ nữ đẹp mặn mà và nhanh nhẹn đến vậy…
Một buổi chiều mùa hè êm ả trong ngôi nhà khang trang của chị nằm trên đường Huỳnh Thúc Kháng, Nha Trang - một ngôi nhà mà có lẽ người bình thường cũng phải khó khăn lắm mới tạo dựng được, huống hồ hai vợ chồng chị lại là thương binh nặng. Thế mới biết sự nỗ lực đó to lớn biết nhường nào. Trong căn phòng khách sang trọng, chị kể tôi nghe những thăng trầm của cuộc đời mình, những khó khăn mà chị đã trải qua. Đó là một câu chuyện dài và xúc động của một người thương binh vượt lên số phận.
Nhà chị ở làng Lạc Bình (Ninh Thọ - Ninh Hòa), một cơ sở cách mạng đã từng nuôi giấu rất nhiều cán bộ. Chị giác ngộ cách mạng khi còn là một cô bé 9 tuổi. Đến nay, dù đã gần 50 năm trôi qua nhưng chị vẫn không thể nào quên những nỗi căm hận của mình khi chứng kiến chú Bảy Ngọc - một cán bộ cách mạng nằm vùng bị giặc hành hạ tra tấn đến chết. Đó là một kỷ niệm đẫm nước mắt được chị khắc ghi trong ký ức và biến thành lòng căm thù giặc sâu sắc. Cũng từ đó chị đã nhận nhiệm vụ làm liên lạc cho cách mạng. Lớn lên một chút, với sắc đẹp mặn mà, chị được tổ chức phân công làm binh vận và vào tận sào huyệt của địch để lấy tin tức. Về sau bị lộ, chị bị địch bắt đến 4 lần và lần nào chị cũng phải chịu những trận đòn tra tấn khủng khiếp. Dấu tích của những lầøn tra tấn ấy đến giờ vẫn còn là một bàn tay bị gãy không thể liền xương… Ra tù, chị thoát ly lên núi vì không thể hoạt động hợp pháp được nữa. Tại căn cứ, chị lập gia đình với anh Huỳnh Dũng Tiến - lúc đó là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn đặc công 470. Tháng 1-1975, trong một lần đi lấy vũ khí ở Lam Sơn (Dục Mỹ), chị bị trúng mìn. Vết thương bị nhiễm trùng nên một chân của chị bị cưa, lắp chân giả, chân còn lại cứng khớp và tê liệt. Nằm trên giường bệnh chị gắng gượng viết thư cho chồng báo tin mình vẫn còn sống. Chị tâm sự: “Lúc đó tôi thấy những người xung quanh tôi khóc mà không hiểu vì sao, mãi về sau tôi mới biết thời gian ấy chồng tôi cũng bị thương nặng ở đầu trong một trận đánh ở Bình Định và ai cũng tưởng anh ấy không qua khỏi”.
Giờ đây, anh chị đã có hơn 35 năm chung sống và có đến 3 cô con gái xinh đẹp, giỏi giang. Chị nói: “Đây là điều chị không thể nào ngờ và gần như không dám mơ đến vì cứ nghĩ những trận đòn thù, những vết thương của chiến tranh sẽ không cho chị khả năng làm mẹ”. Hai vợ chồng đều là thương binh nặng nên rất khó khăn trong việc kiếm sống và nuôi con. Dù vậy, trong những lúc khó khăn nhất, chị vẫn luôn là trụ cột của gia đinh. Chị lặn lội trồng rau muống, nhận hàng may gia công, quán xuyến việc nhà và chăm sóc chồng con. 16 lần bị thương trong chiến tranh đã khiến chồng chị ốm đau liên miên, chị phải đưa chồng đi từ bệnh viện này đến bệnh viện khác, từ Nha Trang vào TP. Hồ Chí Minh để chữa trị. “Hồi đó phải sắc thuốc Nam cho anh uống, ròng rã mấy năm trời, xác thuốc nhiều đến nỗi thành một cái bờ phía sau vườn”, chị nhớ lại.
|
|
Anh Lê Bá Dương cùng đồng đội thả hoa tưởng nhớ các đồng đội đã hy sinh trên sông Thạch Hãn. |
Năm 1990, gia đình chị được cấp một ngôi nhà tình nghĩa ở đường Nguyễn Thiện Thuật, cũng từ đây cuộc sống gia đình chị bớt khó khăn hơn khi chị mở một tiệm may lấy tên là Ngọc Trang dù không còn chân nào để đạp máy may. Vậy mà khách hàng đến ngày càng đông. Chị tâm sự: “Tôi chỉ tự mày mò, mua sách về tự học để may theo nhu cầu của khách. Có lẽ người ta thương tôi tàn tật”. Sau đó chị mở cả phòng giặt ủi, nhận giặt quần áo cho khách du lịch. Rồi chị vay ngân hàng để mở một khách sạn và kinh doanh rất thành công. Nhưng rồi vì nhiều lý do trong đó có cả phần vì sức khỏe của chồng, chị không còn giữ được khách sạn đang ăn nên làm ra. Chị nói: “Giờ đây với chính sách, sự chăm lo rất tốt của Đảng và Nhà nước, con cái cũng đã lớn và thành đạt nên vợ chồng tôi không còn phải lo đến chuyện cơm áo. Tôi bây giờ chỉ lo chăm sóc sức khỏe cho chồng mà thôi.”
Câu chuyện của chị đã khiến Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan rất xúc động. Có lẽ vì thế mà bà lưu lại nhà chị lâu hơn để trò chuyện với chị. Bà nói: “Chị đã làm rất tốt lời Bác Hồ đã dạy: “Thương binh tàn nhưng không phế”. Không những không phế mà chị còn rất đẹp, sống yêu đời, nuôi dạy con tốt, đồng thời chăm sóc chồng cũng là thương binh”.
XUÂN THÀNH - BÍCH KHUÊ |