|
|
Chiến sĩ Điện Biên của Khánh Hòa chụp ảnh lưu niệm cạnh xe tăng Pháp trên đồi A1 trong chuyến thăm lại chiến trường xưa năm 2004. |
Chín năm làm một Điện Biên/Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng. 55 năm đã qua kể từ chiến thắng lịch sử “chấn động địa cầu”, những chiến sĩ Điện Biên trai trẻ năm xưa giờ đã bạc tóc, mắt mờ, chân chậm… Nhưng nhắc đến những ngày tháng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ (ĐBP), mọi người đều phấn chấn, hào hứng. Với các cụ, trang sử hào hùng ấy như vừa mới xảy ra hôm qua…
Trong những ngày tháng 5 lịch sử này, tại Nha Trang, Khánh Hòa, tôi may mắn được gặp các chiến sĩ Điện Biên năm xưa. Các cụ từng là lái xe, lính công binh, pháo binh, bộ binh, quân y… ở chiến trường ĐBP.
Buổi đầu gian khó
Nhớ về chiến dịch ĐBP, các cụ không thể quên những ngày mở đường gian khó. Đầu năm 1953, cụ Lê Tiến Đệ - lúc đó là thủ kho Xưởng vũ khí Vũ Tiến Tới, được bổ sung vào Tiểu đoàn 151 - Sư đoàn 351 làm nhiệm vụ mở đường cho xe, pháo vào ĐBP. “Nhận lệnh, tôi xác định mình đi chiến trận lâu dài, sống chết khó biết trước nên đã viết thư cho vợ mới cưới dặn dò: Anh ra trận không biết sống chết thế nào. Em hãy tìm người khác để lập gia đình, nhờ vả về sau…” - cụ Đệ nhớ lại. Hồi ấy, thiết bị hiện đại chưa có, bộ đội công binh chủ yếu dùng cuốc, xẻng, xà beng. Quân ta phải dùng búa tạ và đục tạo lỗ tra thuốc pháo phá đá mở đường. Buổi đầu làm đường chưa quen, tay ai cũng tứa máu nhưng lòng vẫn bừng bừng khí thế… Cụ Đệ kể: “Một lần đốt dây cháy chậm được 10 phút mà quả mìn không nổ, Đại đội trưởng của tôi bèn tiến đến kiểm tra thì nó phát nổ, khiến anh bị thương nặng”. Mở đường tuy vất vả, nhưng gian khổ nhất phải kể đến là việc chống lầy. Đường đất, trời mưa, lại thêm xe chạy suốt ngày đêm nên con đường vô cùng lầy lội. Bộ đội mở đường phải vào rừng chặt cây, xuống suối vác đá lên rồi đập nhỏ trải suốt đoạn đường dài hàng mấy cây số. Nhưng chẳng bao lâu, địch biết đường vận chuyển lương thực, vũ khí của ta, chúng tổ chức đánh phá. “Để bảo vệ đường, chúng tôi phải theo dõi bom của địch. Thông thường, mỗi máy bay địch thả 2 quả bom, một quả nổ ngay, một quả nổ chậm. Sau mỗi loạt bom, anh em lại phải tìm lỗ có bom, cắm cây đánh dấu cho đội phá bom mìn đến “giải quyết”…” - cụ Đệ nhớ lại. Việc mở đường lên Điện Biên đã được hoàn thành bằng ý chí sắt đá, nỗ lực phi thường của chiến sĩ ta như thế!
Ngày ấy, việc hành quân lên ĐBP hết sức bí mật. Cụ Hoàng Diệm - nguyên lính bộ binh Trung đoàn 57 - Đại đoàn 304 nhớ lại: “Sau thời gian học nhiệm vụ Trần Đình (mật danh của ĐBP), chúng tôi được lệnh lên đường. Hôm ấy đã là ngày 30 Tết Giáp Ngọ (đầu năm 1954), sau khi nhận thêm mỗi người một túi lương khô, cả đơn vị tập hợp dưới tán lá nứa nghe Đại đội phổ biến mệnh lệnh và được chính trị viên chúc Tết, chúc hoàn thành nhiệm vụ. Lên đường, mọi người hát vang bài “Vì nhân dân quên mình”. Nhiều đồng chí rưng rưng lệ vì xúc động. Ròng rã hàng tháng trời, đêm đi ngày nghỉ, trên lưng mỗi người cõng khoảng 30kg gồm ba-lô quần áo, gạo, súng đạn… Dọc đường hành quân, niềm vui lại nhân lên khi được gặp những đoàn xe vận tải nối đuôi nhau chở hàng ra chiến dịch, gặp các dân công hỏa tuyến từ mọi miền đất nước hướng lên Điện Biên… “Tất cả ra tiền tuyến”, “Tất cả để chiến thắng” là tiếng nhủ lòng đầy hào hứng, phấn chấn của mỗi chiến sĩ đang hướng lên ĐBP”.
“Thiên sử vàng” Điện Biên
Chuẩn bị vào chiến dịch, quân ta phải nắm rõ cách bố trí phòng vệ của địch. Cuối năm 1953, một tiểu đoàn trinh sát đã lên ĐBP. Cụ Mai Đình Trí (18 Phan Chu Trinh, Nha Trang), nguyên Trưởng Ban liên lạc chiến sĩ Điện Biên tại Khánh Hòa, kể về kỳ tích lấy bản đồ của địch: “Ban đầu, để nắm tình hình, ta lấy lời khai của tù binh… Mãi sau này, ta mới nghĩ đến việc vẽ bản đồ. Đơn vị trinh sát được chia ra đi thám sát tình hình, sau đó vẽ từng phần rồi ghép lại. Nhưng kiểu vẽ bản đồ “thầy bói xem voi” đó không chính xác. Bàn tính mãi, cuối cùng, đơn vị của tôi đưa ra phương án đột nhập, lấy bản đồ của địch. Sau nhiều ngày theo dõi, dò dẫm, cuối tháng 1-1954, tổ trinh sát đã vào được doanh trại địch khiêng ra một thùng nặng, nhưng mở ra lại thất vọng vì toàn mắm muối, cá khô… Các trinh sát lại phải chui bụi thêm mấy ngày nữa, đột nhập và khiêng ra được một thùng to, trên nắp có mấy chữ ghi là tài liệu. Tôi mừng quá, điện về Bộ Chỉ huy và được yêu cầu chuyển ngay lên. Đích thân Đại tướng Võ Nguyên Giáp mở thùng, xem xét và tuyên bố ta đã lấy được bản đồ quân sự ĐBP. Niềm vui thật không tả xiết. Đơn vị được Trung ương khen tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì, riêng anh Phận - người trực tiếp đột nhập lấy hòm tài liệu được thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Tôi là Tổ trưởng Tổ trinh sát nên được thưởng Huy hiệu Bác Hồ”.
Trong chiến dịch Điện Biên, đèo Pha Đin luôn bị địch đánh phá ác liệt nhằm cắt đứt con đường vận chuyển lương thực, vũ khí của ta. Cụ Nguyễn Thanh Mai (49B Nguyễn Thiện Thuật, Nha Trang) - Trưởng Ban liên lạc chiến sĩ Điện Biên kể: “Sau khi đánh địch ở Lai Châu, Đại đoàn 316 tiếp tục tiến về Điện Biên. Lúc ấy, tôi là Khẩu đội trưởng khẩu 12 ly 8 - Tiểu đoàn 536, làm nhiệm vụ trợ chiến ở đèo Pha Đin, bảo vệ đội hình xe pháo của Đại đoàn tiến quân và giúp dân công hỏa tuyến vận chuyển lương thực, vũ khí lên Điện Biên… Chiều ấy, sau khi đẩy lui mấy đợt quần thảo của máy bay địch, tôi phân công trực chiến, cho anh em luân phiên đi tắm giặt. Trực kíp 1 xong, khi đang cùng mấy anh em ngâm mình dưới suối thì tôi nghe có tiếng máy bay ầm ào trên đèo. Nóng ruột, tôi liền chạy lên. Bỗng bom nổ rung đất, khói cuộn mù mịt. Khi chạy lên đèo thì khẩu 12 ly 8 của khẩu đội đã bị hất tung khỏi trận địa, 5 pháo thủ trực chiến đều hy sinh… Tiểu đoàn lập tức di chuyển trận địa, riêng tôi cùng bộ phận làm công tác tử sĩ ở lại đưa những đồng đội hy sinh về bản bên kia đỉnh đèo làm lễ truy điệu. Nhìn những đồng đội thân yêu ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ, lòng tôi quặn đau vô cùng”. Vào chiến dịch, chiến sĩ trẻ Nguyễn Thanh Mai được giao chỉ huy một khẩu đội mới. “Trận địa ác liệt, nhiều hôm khẩu đội 12 ly 8 bắn đỏ cả nòng. Hết đánh trả máy bay, chúng tôi lại hạ nòng pháo bắn xe tăng để ngăn địch tràn lên…”. Đến bây giờ, cụ Mai vẫn nhớ như in cảm giác sung sướng khi Đại đội mình bắn gục xe tăng địch ở đồi E, chi viện cho bộ binh đánh đồi A1.
Cụ Hoàng Diệm từng tham gia trận đánh lịch sử ở bản Long Nhai: “Sau khi mất Him Lam và đồi Độc Lập vào tay quân ta, địch ở Hồng Cúm tiến theo cánh đồng Điện Biên lên phía Nam Mường Thanh định thọc “mũi dao hiểm” vào lưng quân ta đang chiến đấu ở đồi A1. Pháo binh và xe tăng địch bắn dữ dội vào trận địa ta. Nhiều công sự bị phá, nhiều đoạn hào bị sạt… Cuộc chiến đấu mỗi lúc một gay go. Một bộ phận địch tiến được vào đường hào, ném lựu đạn vào trận địa ta. Trận đánh giáp lá cà diễn ra ngay trong chiến hào. Địch ném lựu đạn xuống hào, chiến sĩ ta lượm ném trả lại. Địch nhảy vào đường hào, ta dùng tiểu liên bắn quét, dùng lưỡi lê đâm; xác địch chất đầy chiến hào…” - cụ Diệm kể. Quân ta đã quyết giữ trận địa đến cùng, bởi ai cũng biết sau lưng mình là làng Long Nhai - ngôi làng nhỏ mới hôm trước bị một trận bom san bằng, hàng trăm người đàn bà, trẻ con, ông già bị chết. Và sau Long Nhai chỉ vài ki-lô-mét là Mường Thanh, là đồi A1 - nơi các đơn vị bạn cũng đang quần nhau với địch. Với quyết tâm đó, quân ta đã chiến đấu hết sức dũng cảm, giữ vững từng đoạn hào, đẩy lui quân địch.
Ta liên tục tấn công vào các cứ điểm ĐBP. Ngày 6-5-1954, cứ điểm 316 phía Tây Sở chỉ huy của Tướng Đờ-cát bị tiêu diệt. Tấn bộc phá TNT làm nổ tung đồi A1 trong đêm đó càng khiến địch thêm hoang mang. Chiều 7-5, Tướng Đờ-cát ra hàng. Tập đoàn cứ điểm ĐBP sụp đổ hoàn toàn. Nhớ về sự kiện lịch sử này, cụ Nguyễn Thanh Mai không giấu được xúc động: “Chiều 7-5, từ trong chiến hào, từng mảnh dù trắng dần trồi lên đi về chân cầu Mường Thanh. Chiến sĩ ta nhảy lên khỏi chiến hào, reo hò mừng thắng lợi. Rồi chợt nghĩ đến đồng đội thân yêu đã ngã xuống không kịp thấy ngày toàn thắng, mắt ai cũng rưng rưng… Ngay sau đó, Bác Hồ gửi thư khen chiến sĩ tham gia chiến dịch ĐBP, thật không gì sung sướng hơn!”.
Tự hào Việt Nam
|
|
Mỗi lần họp mặt, các chiến sĩ Điện Biên lại cùng nhau ôn kỷ niệm chiến đấu chống địch năm xưa. |
Có những chi tiết không thể viết hết bởi mỗi con người lại chứa một phần lịch sử; còn biết bao câu chuyện về chiến sĩ Điện Biên. Cụ Võ Đức Thi - khi ấy là y tá phục vụ chiến dịch ĐBP, kể về việc cứu chữa thương binh trong hầm, dưới ánh đèn măng-sông, hoặc “đèn điện” mà máy phát là bình điện xe đạp quay bằng tay… Rất nhiều chiến sĩ đã được cứu sống nhờ sự tận tụy của các chiến sĩ quân y, nhưng cũng có trường hợp phải bó tay do thiếu y cụ. “Có một chiến sĩ trẻ bị thương, đứt động mạch ở chân. Do thiếu dụng cụ y tế, các bác sĩ đành thắt mạch máu để cầm máu rồi nối lại sau và chuyển về tuyến sau. Do máu không lưu thông được, phần dưới chân chiến sĩ này bị hoại tử, phải cưa bỏ cẳng chân…”- cụ Thi ngậm ngùi kể. Chuyện về các chiến sĩ Điện Biên ở Khánh Hòa, còn có cụ bà Lê Thị Lam (14 Trần Phú, Vĩnh Nguyên), là thanh niên tình nguyện làm dân công hỏa tuyến, đi tìm người yêu giữa chiến trường đầy bom đạn; cụ Hoàng Lục - số 10A đường 1A - Phước Long (chiến sĩ tải thương) đã vĩnh viễn để lại một phần thân thể khi đang tải thương trên cánh đồng Mường Thanh cuối tháng 4-1954. Hay chuyện về căn bếp Hoàng Cầm, nắm cơm muối hạt dẻ, bát canh rau rừng chia vội trong ngày nắng như thiêu như đốt hay đêm mưa tầm tã… Trong những câu chuyện đó, luôn cảm nhận được lý tưởng sống, tinh thần chiến đấu quả cảm của những chiến sĩ ĐBP năm xưa. Tôi bất chợt nhớ câu nói của nhân vật Pavel Coocsaghin trong Thép đã tôi thế đấy (N.A.Ostrovsky)- tác phẩm được nhiều chiến sĩ ĐBP chuyền tay đọc dưới giao thông hào: “Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay, có thể nói rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người”. Chính những con người bình dị mà tôi gặp hôm nay đã làm nên những trang sử chói lòa Điện Biên năm xưa! Tự hào thay Việt Nam!
XUÂN THÀNH |