243
3775
Phóng sự
/Phongsu/
216543
Mai này,giữ “hồn Raglai”?
0
null
Mai này,giữ “hồn Raglai”?
Cập nhật lúc 18:16, Thứ Ba, 27/10/2009 (GMT+7)

Kỳ 2:  Gian nan bảo tồn văn hóa Raglai

 

° XUÂN THÀNH

Dưới ánh lửa bập bùng, những phụ nữ Raglai lớn tuổi ngồi bỏm bẻm nhai trầu và nghe tiếng mã la rộn ràng. Dường như họ đang nhớ về những ngày hội từ thời son trẻ. Away Mấu Thị Thanh cho biết: “Hồi trước, cứ nghe đánh mã la ở đâu là cái chân mình đi ngay tới đó. Tới uống rượu cần rồi múa hát với lũ con trai, con gái, thích lắm… Bây giờ, tụi nó ít chơi mã la. Nhiều đứa không biết hát nữa rồi…”. Nói xong, bà lặng im, mắt nhìn xa xăm…

Người Raglai có lối mời rượu thật khó chối từ.

Lên Khánh Sơn lần này, tôi không chỉ định tìm các nghệ nhân hát kể sử thi, mà còn muốn nghe tiếng chapi, kèn bầu và những làn điệu dân ca Raglai. Nhưng lên rồi mới thấy, “hồn Raglai” được nuôi dưỡng bao đời bằng men say rượu cần và những hội làng rộn ràng tiếng cồng chiêng ấy đã phôi pha…

° Phôi pha “hồn núi”

Khi tiếng mã la rộn ràng nổi lên ở nhà Cao Văn Nhịp (thôn Tà Lương, thị trấn Tô Hạp), nhiều người tập trung lại để xem thanh niên chơi mã la bên bếp lửa. Các thanh nữ lại gần thưởng thức tài nghệ của các chàng trai Raglai, còn người già thì ngồi bên bậu cửa ăn trầu. Dường như lâu lắm rồi, họ mới lại được nghe tiếng nhạc linh thiêng này. Bà Mấu Thị Thanh (vợ ông Cao Văn Nhịp) cho biết: “Hồi trước, cứ nghe đánh mã la ở đâu là cái chân mình đi ngay tới đó. Mình không đi, cái chân nó cũng đi thôi! Tới đó, uống rượu cần rồi múa hát với lũ con trai, con gái, thích lắm…”. Rồi bà chỉ vào những thanh niên Raglai chơi ngoài sân, nói: “Bây giờ, tụi nó ít chơi mã la lắm! Nhiều đứa không biết hát nữa rồi…”. Nói xong, bà lặng im, mắt nhìn xa xăm như hồi tưởng những ngày lễ hội rộn ràng từng tham gia khi xưa.

Theo khảo sát của Phòng Văn hóa - Thông tin (VHTT) Khánh Sơn, toàn huyện hiện còn khoảng 30 bộ mã la, trong đó có 20 bộ loại 7 mặt, 10 bộ loại 5 mặt.  “Do cuộc sống khó khăn, những năm 80 của thế kỷ trước, đồng bào Raglai đã bán đi nhiều bộ chiêng quý. Bây giờ, số chiêng còn không nhiều, không gian văn hóa lại thay đổi, nên số người biết chơi mã la ngày một ít…” - ông Nguyễn Phước Khiêm, Trưởng phòng VHTT Khánh Sơn lý giải. Bên cạnh đó, việc các lễ hội ít được tổ chức; nhà dài - loại hình kiến trúc truyền thống của người Raglai không còn cũng làm hạn chế việc biểu diễn mã la và các nhạc cụ truyền thống. Lớp trẻ không biểu diễn được các bài chiêng khó.

Cùng với sự hao hụt số dàn mã la, một số nhạc cụ truyền thống như: chapi, salaken, kanhi, sáo, kèn bầu… cũng ngày càng ít thấy trong đời sống văn hóa tinh thần của người Raglai. Hôm lên Khánh Sơn, tôi đề nghị với nhà nghiên cứu văn hóa dân gian (VHDG) Mấu Quốc Tiến đi về các vùng sâu, vùng xa để nghe nhạc cụ truyền thống, nhưng anh bảo rất khó, và anh đành thổi cho tôi nghe vài điệu chapi, kèn bầu… dù tự nhận mình “không giỏi lắm”. Theo nhà nghiên cứu Mấu Quốc Tiến, ở Khánh Sơn, số người biết làm các nhạc cụ truyền thống không nhiều. Hiện anh đang sưu tập một bộ nhạc cụ truyền thống của người Raglai nhưng vẫn chưa đủ. Những ngày rong ruổi trên quê hương của đàn đá, tôi đã hỏi nhiều thanh niên Raglai về nhạc cụ truyền thống, nhưng phần lớn đều lắc đầu. Tôi chạnh nghĩ, mai đây, hình ảnh những chàng trai Raglai chơi chapi trên nương chỉ còn trong ký ức!?

Hôm dự lễ ở nhà Cao Văn Nhịp, gặp nhiều thanh niên Raglai đến chơi, tôi ngỏ ý muốn nghe những làn điệu dân ca truyền thống như: Ma diêng Sigơn (hát đối đáp nam nữ), Ma đu (hát lúc chia tay chủ - khách, dặn dò nhau giữ tình cảm tốt đẹp)…, nhưng họ đều nói không biết hát. Để chiều khách, Ama Nhịp và Away Thanh đã cất lời: “Anh muốn chọn đất này làm rẫy, đất này hiền hay không…”. Trong đêm vắng, tiếng hát giao duyên mộc mạc mà thiết tha, thể hiện mơ ước cuộc sống lứa đôi hạnh phúc, sao quyến rũ lạ kỳ. Hôm đi Thành Sơn, thấy Cao Thị Xanh - con gái nghệ nhân Cao Thị Quang (người Raglai giữ truyền thống con theo họ mẹ) đang có con nhỏ, tôi bèn đề nghị cô hát ru con bằng tiếng Raglai. Cô cười bẽn lẽn: “Mình không hát được đâu”. Nài nỉ mãi rồi cô cũng hát, nhưng chỉ được 1 câu là ngừng - cô không thuộc! Theo nhà nghiên cứu Mấu Quốc Tiến, chuyện này phổ biến trong cộng đồng dân tộc Raglai ở Khánh Sơn hiện nay. Chỉ còn những người già biết và thích hát điệu Madiêng, Mađu. “Thanh niên Raglai bây giờ chỉ thích nhạc trẻ thôi!” - câu nói của Mấu Quốc Tiến khiến tôi trăn trở mãi.

Quay về thị trấn Tô Hạp thì trời vừa đổ mưa, nhưng tôi vẫn nài nỉ Mấu Quốc Tiến dẫn đi xem nhà mồ của đồng bào Raglai. Và anh dẫn tôi vào xem 2 nhà mồ nằm khuất giữa đồi thông thuộc xã Sơn Hiệp… Theo tín ngưỡng của người Raglai, sau khi làm lễ bỏ mả là cắt đứt quan hệ giữa người sống và người chết, họ sẽ không quay lại thăm mồ mả người thân, cũng không làm bia đề tên như người Kinh. Nhưng 2 nhà mồ tôi xem đều có bia ghi tên người chết, mái nhà lợp tôn, trang trí hoa văn bằng sơn công nghiệp… Ngày trước, người Raglai trang trí nhà mồ bằng màu sắc tự nhiên như: màu đen (từ than), màu xanh (từ nước lá cây), màu vàng (nghệ), màu đỏ (vôi và trầu không), mái nhà lợp tranh. Đem thắc mắc trao đổi với ông Nguyễn Phước Khiêm, tôi được biết: Không chỉ riêng nhà mồ bị lai tạp, nhiều nghi lễ của đồng bào Raglai cũng không còn được thực hiện, hoặc đã giản tiện đi rất nhiều.

° Còn dài câu chuyện bảo tồn

Nhà nghiên cứu Mấu Quốc Tiến đã kể cho tôi nghe nhiều về việc bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Raglai. Ngày trước, đi sưu tầm sử thi, nhà nghiên cứu VHDG Nguyễn Thế Sang, Trần Vũ… phải đi bộ đến những vùng xa xôi, ở lại nhà đồng bào cả tuần… “Có lần, tôi và Ama Sang đang thu băng ở Thành Sơn thì hết pin. Em vợ tôi phải chạy bộ từ Thành Sơn xuống tận Sơn Lâm mới mua được pin mới…” - nhà nghiên cứu Mấu Quốc Tiến kể. Bây giờ, đường sá đi lại dễ dàng hơn, nhưng người sưu tầm lại có nhiều khó khăn khác. Anh Mấu Quốc Tiến tâm sự: “Các nghệ nhân không phải luôn sẵn sàng hát ngay; mình phải vận động, thuyết phục. Có lần, bà Mấu Thị Diên bị bệnh, tôi đã đi mua thuốc để bà ấy chữa hết bệnh mới hát mà thu băng được”. Anh cũng thổ lộ muốn có nhiều trí thức Raglai tham gia sưu tầm sử thi, nhưng không ai mặn mà. “Một mình làm không xuể nên chỉ dịch thôi…” - anh cho biết.

Khởi đầu từ những năm 80 của thế kỷ trước, đến nay, các nhà nghiên cứu VHDG đã lần lượt cho ra đời nhiều tác phẩm nghiên cứu về luật tục Raglai, truyện cổ, thành ngữ, tục ngữ Raglai, các nghi lễ vòng đời người, vòng cây lúa, đặc biệt là sử thi Raglai. Đây là những tư liệu quý về văn hóa truyền thống Raglai. Tuy nhiên, để giữ được cái “hồn Raglai”, quan trọng hơn là phải đưa văn hóa đó trở lại cộng đồng để cộng đồng bảo tồn và phát huy nhằm phục vụ đời sống. Giáo sư Ngô Đức Thịnh từng nói: “Sử thi không chỉ là văn học mà còn là văn hóa. Các cuốn sách in đẹp là rất cần nhưng chưa đủ…, phải đưa sử thi vào đời sống văn hóa cộng đồng”. Vâng, cái hay của sử thi Raglai là ở những làn điệu, khẩu ngữ được ngâm nga. Người đọc sử thi trên sách chưa chắc hát ngâm được; các bài dân ca dù hay đến mấy cũng phải hát mới có hồn! Để khắc phục điều đó, năm 2003 - 2004, Viện VHDG thí điểm mở lớp dạy sử thi ở xã Thành Sơn với 10 học viên, do nghệ nhân Cao Thị Thanh và Cao Thị Quang truyền dạy… Các em được trích học 6 tác phẩm: Amã Chi Lang (nói về chàng Chi Lang đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ xóm làng); Dam Jalo (về tình yêu đôi lứa); Amã Udai Ujà (về chàng trai anh dũng giúp người Chămpa đánh giặc ngoại xâm)… Mỗi em được phát 1 cassette để ghi âm lời hát của nghệ nhân rồi tập hát theo. Lớp học từng được nhiều người kỳ vọng về “sự phục hưng của sử thi Raglai”, nhưng do các em học mà không có môi trường sinh hoạt, lâu dần cũng quên. Hỏi chuyện Cao Văn Cường (thôn 3, xã Thành Sơn) - học sinh của lớp học sử thi ngày trước, Cường cho tôi biết: “Hồi đó, em học thuộc, nhưng bây giờ quên gần hết rồi… Tụi bạn em bây giờ toàn hát karaoke thôi, không hát sử thi đâu”. Tôi nghe lòng thắt lại sau câu nói ấy…   

Ông Khiêm tâm sự: “Muốn bảo tồn văn hóa truyền thống Raglai, phải tập hợp các nghệ nhân truyền dạy sử thi, dân ca cho thanh niên; khôi phục lại nhà dài làm nơi sinh hoạt văn hóa truyền thống; tăng cường đầu tư các thiết chế văn hóa như nhà văn hóa xã, thường xuyên tổ chức lễ hội…”. Phòng VHTT Khánh Sơn cũng đã kiến nghị sắm mã la cho đồng bào. Vài năm trước, Nhà nước đã vận động người dân Khánh Sơn dựng lại 10 nhà dài (theo kiểu nhà nước và nhân dân cùng làm) ở thị trấn Tô Hạp và các xã: Sơn Trung, Sơn Hiệp, Ba Cụm Bắc…, nhưng hiện nay, các ngôi nhà này đã hỏng gần hết. Cũng phải, ngày trước, người Raglai ở chung nhiều thế hệ. Mỗi khi con cái lấy chồng, sinh con…, người ta lại nối thêm nhà và cùng sống với nhau; căn nhà vì thế cứ dài ra mãi. Như già làng Cao Sa Nhân (xã Sơn Hiệp) giải thích, “nhà dài phải có người sống trong đó mới có hồn, chứ làm nên chỉ để 1 năm tổ chức vài lần, nếu không hỏng vì nắng mưa thì cũng hoang lạnh”.

Chiều. Trên những con đường liên xã ở Khánh Sơn, tôi gặp những thanh niên Raglai vừa phóng xe máy vừa nghe điện thoại di động. Thế giới đang “phẳng” ra ở nơi đây, tại vùng đất xa xôi này. Và cùng với đó, nhiều nét văn hóa truyền thống cũng đang trôi dạt dần. Một nền văn hóa chỉ “sống” khi chính cộng đồng văn hóa đó biết trân trọng, gìn giữ. Nhưng hiện nay, vẫn chưa mấy người Raglai nhận thức được điều này. Thật khó thay!

X.T

,
Ý KIẾN BẠN ĐỌC