Bản lĩnh Trường Sa

30/08/2012, 15:48 [GMT+7]

Sau 2 ngày lênh đênh giữa đại dương thăm thẳm, Trường Sa - quần đảo cực Đông của Tổ quốc hiện dần phía chân trời, sáng lung linh ngoài sức tưởng tượng…

. Ký ức ốc đảo của chim biển

Trước khi đến với Trường Sa vào đúng ngày Tết thống nhất 30-4, dịp kỷ niệm 37 năm giải phóng đất nước, tôi đã tìm gặp “người của Trường Sa”, Đại tá Trịnh Lương Vượng, nguyên Phó Chỉ huy trưởng Lữ đoàn Trường Sa, nguyên Đảo trưởng đảo Trường Sa Lớn, Song Tử Tây, từng bảo vệ đảo Trường Sa sau giải phóng. Nói đến Trường Sa, ông hào hứng: “Chỉ vài năm vắng mặt ở Trường Sa, quay lại đã thấy đổi thay kỳ lạ. Trường Sa xa xôi phủ đầy chim biển ngày nào giờ như một thành phố nổi giữa biển Đông”.

Màu xanh trên đảo Trường Sa Đông.
Màu xanh trên đảo Trường Sa Đông.

“Người của Trường Sa” kể: Những ngày đầu sau khi giải phóng Trường Sa từ chính quyền cũ, nơi này chẳng khác nào một ốc đảo của chim biển. Những đàn chim hàng vạn con, chiều chiều bay về như những đám mây khổng lồ, đen kịt cả bầu trời. Lính không ăn thịt chim vì muốn bầu bạn. Mà chúng cũng thân thiết với lính như “ruột thịt”. Chỉ cần một tiếng gọi bạn là hàng chục con sà tới đậu đầy lên đầu, lên vai lính. Hàng trăm con khác bay “oạc oạc” xung quanh. Chiều nào lính đi đánh bóng về cũng buộc phải chi ra chút nước ngọt để… tráng đầu bởi phân chim “nhuộm” trắng tóc. Muốn bê mâm thức ăn từ bếp lên lính phải căng bạt che… phân chim nếu không muốn thức ăn bốc mùi hắc lợm, thải ra từ lũ chim tinh quái. Những ngày giông gió, lính phải “chiến đấu” với chim tìm chỗ nằm. Chim rúc vào chăn, quần áo, giường chiếu và lúc chúng ra đi, không quên để lại cả bầy… rận.

Trường Sa ngày ấy chỉ có vẻn vẹn 3 loài cây có thể sống sót, đó là cây sâm nam, muống biển và phong ba. Cát ở Trường Sa rất đặc biệt, là loại cát mặn sinh ra từ san hô chết nên trồng cây gì cũng chết. Nhưng, từ ngày giải phóng, lính đảo đã “khai quật” những hố phân chim dày 2 - 3m, dùng để cải tạo những vuông đất màu mỡ, gieo hạt bí đỏ. Những năm ấy, ngọn bí đỏ là nguồn rau xanh duy nhất của lính đảo Trường Sa, còn thực phẩm là đồ hộp không đát (date)…

1
Khu dịch vụ hậu cần nghề cá trên đảo Đá Tây.

Sau gần 2 ngày đêm vượt biển, mờ sáng, khách trên tàu ùa ra boong nhìn về dải đất lung linh sáng giữa đại dương xanh thẳm. Đến Trường Sa rồi! Đoàn chúng tôi đi đến các cụm đảo phía Nam Trường Sa, nơi có các đảo Thuyền Chài, Đá Lát, Đây Tây, cận kề đó là Đá Đông, Châu Viên… Trong đó, nhỏ nhất là Đá Lát nơi có ngọn hải đăng cao tới 42m. Rộng nhất là Thuyền Chài, một bãi san hô có hình hài của một chiếc thuyền câu. Và được đầu tư bề thế nhất là Đá Tây, nơi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Quân chủng Hải quân xây dựng Khu tổ hợp nuôi trồng thủy sản - dịch vụ hậu cần nghề cá, trở thành bến bờ của ngư dân.

Trên bãi rộng 3.000m2 được bao bọc xung quanh bởi dải san hô hình vành khuyên, tạo thành một lòng hồ giữa biển Đông, Khu hậu cần nghề cá Đá Tây đã được đầu tư xây dựng bến trụ cập tàu, tường hắt sóng, sân bãi, kho chứa hàng, nhà nghỉ cho ngư dân, nhà kính trồng sau xanh… Anh Bùi Văn Thục, một nhân viên đã làm việc ở đây 4 năm cho biết: Cứ đến mùa trăng, những chiếc thuyền câu (bám biển 3 - 4 tháng) từ các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên… lại ghé vào đảo nghỉ ngơi. Ở đây, họ được cung cấp nhu yếu phẩm và dầu với giá trong bờ, được sửa chữa, bảo dưỡng máy móc miễn phí và được cứu hộ, cứu nạn, chăm sóc sức khỏe khi cần. Năm 2011, đã có 421 lượt tàu thuyền của ngư dân vào đảo, được cung cấp 393.000 lít nhiên liệu, 1.070m3 nước ngọt miễn phí, cung ứng 20 tấn lương thực… “Chúng tôi, ai cũng mong trăng lên, ngư dân cập tàu san sát. Đảo chìm này bỗng hóa thành một làng chài đông vui, quen thuộc như ở quê nhà…” - mắt Thục bỗng đỏ hoe.

. Dấu vết nhà cao chân

 Hoa từ đất liền cho những liệt sĩ đã hóa thân thành sóng nước Trường Sa.
Hoa từ đất liền cho những liệt sĩ đã hóa thân thành sóng nước Trường Sa.

Lính đảo rất nổi giữa đám đông bởi da rất đen và nụ cười trắng sáng. Một anh lính chỉ tay ra 8 cọc bê tông “đứng” dầm nước cạnh đảo Thuyền Chài, nói: “Đó là dấu tích của nhà cao chân, nơi đồng đội của chúng tôi đã từng sống, chốt giữ đảo trong nhiều năm liền…”. Nhà cao chân, là dạng nhà chòi được dựng trên 8 cọc bê tông, rộng chừng 30m2, che bằng cót ép, lợp tôn. Từ năm 1988, trước âm mưu xâm lấn của nước ngoài, những vật liệu để dựng nhà cao chân đã được bộ đội Hải quân mang ra đảo, dựng lên trên những đảo chìm để bộ đội sống, chốt giữ, bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa.

Ngày nay, tại đảo chìm Đá Tây, chúng tôi cũng thấy nhà chòi tương tự được dựng bên cạnh một công trình nhà lâu bền mới đang được gấp rút hoàn thiện. Trong nhà, 3 thiếu úy công binh trẻ tuổi tên Trần Văn Huy, Khổng Văn Linh và Vũ Trường Giang đang chuẩn bị cơm trưa cho toàn đơn vị. Huy nói, cái nhà tạm vài chục mét vuông này là nơi ở của 80 lính công binh đang xây dựng một số công trình ở đảo này. Rồi Huy cho tôi xem cơ man nào là bí xanh, bí đỏ, đậu xanh để tự làm giá đỗ, chỉ có những thứ này mới để được lâu. Cũng như lính đảo, họ đã đi khắp các đảo chìm của quần đảo Trường Sa, chạy đua với thủy triều, sóng biển, bão biển để kịp đổ bê tông xuống biển dựng nhà giữ đảo. “Công trình này sắp bàn giao rồi, cái nhà tạm này cũng sẽ được tháo dỡ để mang đến dựng lại tại một điểm đảo khác. Bọn em lại chuẩn bị lên đường đến nơi mới chị ạ…” - Huy vui vẻ nói.

Giao lưu cùng lính đảo chìm Thuyền Chài.
Giao lưu cùng lính đảo chìm Thuyền Chài.

.  Hy sinh thầm lặng

Trên sân thượng của Khu hậu cần nghề cá Đá Tây, chúng tôi lặng người, mắt hoe hoe đỏ trước bài thơ thần, bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Lý Thường Kiệt được khắc tại đền thờ Việt Quốc công. “… Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”, giữa biển trời mênh mông, dâng một nén hương trước bài thơ thần, lòng người bỗng trào dâng cảm xúc khó tả. Đảo Đá Tây được hải quân ta đóng giữ từ cuối năm 1987. Cạnh đảo Đá Tây, đảo Đá Đông được đóng giữ và bảo vệ thành công đầu năm 1988, trước sự tranh chấp quyết liệt của “nghịch lỗ”.

Anh Phạm Thế Thảo (sinh năm 1968, thường trú tại xã Quảng Văn, Quảng Xương, Thanh Hóa) kể, đầu mùa Đông năm 1988, lúc ấy anh vừa nhập ngũ Lữ đoàn 146, được tăng cường ra trực tại đảo Đá Đông, sống cùng với 9 đồng đội khác trên một pông tông (một loại phao nổi bằng sắt, có mái che). Anh kể, 10 anh em sống trên cái phao dập dềnh chao lắc giữa biển, trên mái thì nóng hầm hập mà lính thì quanh năm chịu ẩm ướt vì sóng biển. Không gian chật hẹp, ngột ngạt và khốn khổ vì thiếu nước ngọt, càng không bao giờ dám mơ đến rau xanh. Pông tông vốn được neo xuống bãi san hô cạnh đảo bằng bốn dây neo ở bốn góc. Vậy nhưng, trận bão biển dữ dội năm ấy đã giật đứt cả 4 dây neo. Sóng tống pông tông ném vào trong bão mịt mùng. Thời ấy không có điện thoại, bão cũng cắt đứt luôn tín hiệu điện đàm từ đảo. Trong nhà cao chân trên đảo, đồng đội chỉ biết đau đáu nhìn theo, lặng người trước dự báo chết chóc. Bão quăng quật điên mù, ném pông tông đi xa đảo gần 10 hải lý. Sáng hôm sau khi bão tan, anh em ôm nhau khóc, mừng mừng tủi tủi vì ai cũng bình an, xa xa bóng tàu cứu hộ của đồng đội đang tới…

Ngày đoàn công tác của chúng tôi đến đảo Đá Tây, tôi đã may mắn được đi cùng Đại tá Lê Mạnh Tiến -, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Hải quân lên thăm tàu HQ 713 thuộc Hải đoàn 129 đang trực cạnh đảo. Những chiếc pông tông ngày nào nay đã được thay thế bằng tàu hiện đại hơn, an toàn hơn. Nhưng thủy thủ vẫn phải sống trên tàu suốt 3 - 4 tháng ròng kể cả mùa biển động. Gió biển lồng lộng mà “không khí” trong tàu vẫn sực mùi… chuồng trại khi mọi khoảng trống trên boong đều được tận dụng nuôi nhốt lợn, gà, vịt, trồng mồng tơi…

Chuyến đi của chúng tôi được đánh giá là đạt kỷ lục ngắn ngày nhất mà vẫn bảo đảm đến được tất cả các đảo, điểm đảo như kế hoạch. Chính vì vậy, có những đảo, đoàn công tác chỉ ghé vào vài chục phút. Một số thành viên trong đoàn chỉ kịp chụp ảnh, nhặt vội cục san hô hoặc vô thức bẻ hoa, quả bàng vuông làm kỷ niệm. Tại các đảo chìm Thuyền Chài, Đá Tây và nhất là đảo Đá Lát, văn công chỉ kịp hát vài bài rồi vội vã ra đi cho kịp kế hoạch. Khi rời đảo Đá Lát, các nghệ sĩ, diễn viên Nhà hát kịch Hà Nội âm thầm khóc, nước mắt cứ lặng lẽ tuôn rồi nấc lên. Nghệ sĩ Thu Huyền - Phó đoàn 3 Nhà hát kịch Hà Nội bảo, gương mặt của từng người lính đảo chìm Đá Lát nhìn theo xuồng dần rời xa đảo cứ mãi ám ảnh chị. “Giá mà có thể ở lại, nấu cơm cho lính đảo chìm…” - diễn viên trẻ Diễm Hương ao ước. Còn Vũ Thu Huyền vốn chanh chua trong vai diễn lại ước: “Nếu được ở lại một đêm trên đảo chìm, hát và diễn hài kịch cho các anh ấy xem, để thấy các anh ấy cười…”.

MAI KHUÊ

;